Giới thiêu chung

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tầng 9, Khu Trung tâm Hành chính - Số: 36 Trần Phú - Phường 4 - Đà Lạt - ĐT: 02633.821377

Fax: 02633.824941 - Email: skhcn@lamdong.gov.vn

LÃNH ĐẠO SỞ

 

Võ Thị Hảo
   Giám đốc

Nguyễn Minh Tâm
Phó Giám đốc

Đỗ Minh Ngọc
    Phó Giám đốc


Họ và tên
Chức vụ
Điện thoại CQ
Võ Thị Hảo
Giám đốc
3820350
Nguyễn Minh Tâm
Phó Giám đốc
3836849
Đỗ Minh Ngọc
Phó Giám đốc
3831377

 

 

GIỚI THIỆU HOẠT ĐỘNG CỦA SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ


Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng được thành lập ngày 01/3/1979 với tên gọi  là Ban Khoa học và Kỹ thuật, đổi tên thành Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường năm 1993 và từ năm 2004 là Sở Khoa học và Công nghệ.

Với vai trò quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ (KHCN), trong 30 năm qua, Sở KHCN đã không ngừng cải tiến, nâng cao năng lực hoạt động trên nhiều lĩnh vực như tổ chức nghiên cứu và triển khai KHCN; quản lý nhà nước về KHCN; tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng; sở hữu trí tuệ; an toàn bức xạ; tham mưu giúp UBND tỉnh trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về KHCN phù hợp với điều kiện địa phương...

Cùng với sự nỗ lực chung của các ngành, các cấp trong tỉnh, hoạt động KHCN đã  không ngừng phát triển, đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với những thành tích đóng góp trong chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển, Sở KHCN đã vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1999), Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2004). Năm 2008, Sở KHCN được UBND tỉnh tặng cờ “Đơn vị thi đua xuất sắc”. Bên cạnh đó, trong năm 2008, Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, đơn vị trực thuộc Sở KHCN, đã nhận Huân chương Lao động hạng Ba do Chủ tịch nước trao tặng. 

Ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp với CBCC Sở KHCN - 1979

 Quá trình phát triển của Sở KHCN trải qua các giai đoạn chính sau:

Giai đoạn từ 1979 đến 1984, hoạt động quản lý KHCN tập trung chủ yếu vào quản lý kỹ thuật tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng; thúc đẩy việc nâng cao chất lượng hàng hóa; phổ biến các thông tin khoa học, tiến bộ kỹ thuật; phát động phong trào sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất nhằm góp phần khắc phục khó khăn trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh.

Giai đoạn từ 1985 đến 1989, hoạt động KHCN Lâm Đồng bắt đầu thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, xây dựng kế hoạch khoa học và kỹ thuật hàng năm. Thông qua hoạt động của Hội đồng khoa học - kỹ thuật các cấp (tỉnh, ngành, cơ sở), kế hoạch KHCN hàng năm được xem xét cụ thể và trình UBND tỉnh phê duyệt. Các đề tài nghiên cứu tập trung vào việc chọn tạo giống cây trồng (lúa, chè, cà phê, dâu tằm, rau, hoa, dược liệu…), vật nuôi (heo, bò, gà, cá…); xây dựng và cải tiến các quy trình sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp. Một số nội dung điều tra cơ bản về tài nguyên, kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn này là cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương gắn với Chương trình Tây Nguyên I và II của Trung ương. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông - lâm - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khoáng sản đã được áp dụng nhiều hơn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

 Giai đoạn từ 1990 đến 2000, đây là thời kỳ đổi mới của đất nước, nhất là từ khi Nghị quyết 02/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và Nghị quyết 09/TU của Tỉnh ủy Lâm Đồng về KHCN được ban hành, đã tạo ra những chuyển biến cơ bản trong nhận thức và hành động của các ngành, các cấp về KHCN. Nhiều chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết trên đã được xây dựng công phu, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hoạt động KHCN tập trung để giải quyết những vấn đề có tính chiến lược, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn như đổi mới công nghệ trong các ngành sản xuất công nghiệp trọng yếu; hướng nhà sản xuất vào nhiệm vụ quản lý chất lượng hệ thống, đồng bộ theo tiêu chuẩn ISO; ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, sản xuất kinh doanh, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; xây dựng chiến lược quản lý chất thải, quy định tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của địa phương; hướng các hoạt động KHCN vào sản xuất - kinh doanh gắn với việc bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Giai đoạn từ 2001 đến 2004, hoạt động KHCN giai đoạn này được cụ thể hóa bởi 11 chương trình KHCN trọng điểm của tỉnh. Ngân sách dành cho KHCN đã tăng dần, đạt xấp xỉ 1-1,2% tổng chi ngân sách tỉnh, phục vụ kịp thời công tác nghiên cứu, triển khai ứng dụng. Nhiều kết quả nghiên cứu được áp dụng vào sản xuất và đời sống, làm luận cứ khoa học góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn kinh tế - xã hội địa phương… Đồng thời với công tác kiện toàn bộ máy tổ chức, tăng cường năng lực hoạt động và quản lý, việc đảm bảo ngân sách  chi cho khoa học là một trong những yếu tố giúp KHCN phát huy được vai trò động lực phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn này.

Giai đoạn từ 2005 đến nay, tập trung thực hiện “Chương trình KHCN và đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Lâm Đồng”, một trong 6 chương trình trọng tâm của tỉnh,  với các nội dung hoạt động KHCN chính trong giai đoạn này là:

- Nghiên cứu KHCN phục vụ nông, lâm nghiệp, nông thôn, miền núi, phục vụ quản lý, phát triển du lịch, công nghiệp, công nghệ thông tin và nghiên cứu về xã hội -  nhân văn.

- Hoạt động KHCN phục vụ việc hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, xây dựng thương hiệu, cạnh tranh thương mại.

- Đổi mới và tăng cường hoạt động quản lý KHCN; phát triển hoạt động KHCN các huyện, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt, phát triển các dịch vụ KHCN.

Trong 30 năm qua, thành quả đạt được của ngành KHCN thể hiện rõ nét ở một số lĩnh vực sau:

1. Hoạt động điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường

Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường được thực hiện có trọng điểm, trọng tâm và hệ thống. Hiện nay, cơ bản   đã hoàn thành việc điều tra về thổ nhưỡng và nước ngầm trên tất cả các xã, huyện trong toàn tỉnh. Các tài liệu nghiên cứu và bản đồ điều tra đất, nước ngầm đều được số hóa và tích hợp bằng công nghệ thông tin địa lý (GIS). Đây là những căn cứ khoa học hữu ích để xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nông, lâm, công nghiệp của tỉnh và các địa phương.

2. Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KHCN

Trong lĩnh vực nông nghiệp, hoạt động KHCN tập trung thực hiện 5 chương trình kinh tế mũi nhọn của tỉnh là lương thực - thực phẩm; công nghiệp chế biến; lâm nghiệp và định canh định cư; khai thác - chế biến khoáng sản; phát triển du lịch. Giai đoạn này, việc ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp đã thu được những kết quả rất tốt, đặc biệt là quá trình chọn tạo giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Khởi điểm từ việc nhân giống khoai tây thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, đến nay, kỹ thuật này đã được ứng dụng rộng rãi trong việc nhân giống các loài hoa phong lan, địa lan, cẩm chướng, lys, các cây ăn quả, cây thuốc, cây lâm nghiệp… Những ứng dụng này không chỉ được triển khai thực hiện ở cơ quan nghiên cứu mà cả trong các doanh nghiệp, địa phương, gia đình nông dân tiên tiến... Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật đã trở thành công cụ sản xuất giống quy mô hàng hóa mang lại lợi nhuận cao cho người sản xuất ở Lâm Đồng. Hàng triệu cây giống cấy mô đã được xuất khẩu sang các nước khối châu Âu. Đây là tiền đề mở ra hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao cho tỉnh những năm sau này, là điều kiện đảm bảo cho việc tiếp cận và chủ động tham gia trên thương trường quốc tế với một số mặt hàng thế mạnh của địa phương (chè, cà phê, rau, hoa...). Đã tuyển chọn được tập đoàn giống chè năng suất cao, phẩm chất tốt tại Lâm Đồng như TB 14, Kim Tuyên, Tứ Quý. Xây dựng vùng sản xuất rau, chè an toàn, cà chua công nghệ cao, trồng rau theo hướng kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và thực hành nông nghiệp tốt (GAP); nghiên cứu phòng chống bệnh sưng cổ rễ cây bắp cải, điều tra nguyên nhân gây biến dạng củ cà rốt và biện pháp phòng ngừa. Nghiên cứu chọn lọc các giống dâu tây năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng Đà Lạt.

Đặc biệt đối với nhiệm vụ phát triển ngành hoa - là thế mạnh của Đà Lạt - nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng đã cho các kết quả tích cực như mô hình sản xuất hoa cắt cành theo hướng công nghiệp phục vụ nội tiêu và xuất khẩu; nghiên cứu giá thể tổng hợp và việc phòng chống bệnh thối củ trên  cây địa lan và một số loại cây cảnh có giá trị; quy trình trồng các giống hoa ngắn ngày; trồng hoa địa lan theo hướng kiểm soát, an toàn dịch bệnh.

Trong những năm qua, các dự án nông thôn miền núi với mục tiêu chuyển giao tiến bộ KHCN góp phần làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, tổ chức lại sản xuất của các cộng đồng dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa đã được triển khai trên hầu hết các huyện trong toàn tỉnh. Các dự án đã mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương, đem lại cách thức làm ăn mới, hiệu quả trong chăn nuôi (bò, dê, gà thả vườn, heo đồng bào, heo lai, nhím…), trồng trọt (lúa, cà phê, chè, điều, sản xuất rau, trồng hoa trong nhà có mái che…) tăng năng suất và giá trị hàng hóa, giúp bà con nông dân dân tộc thiểu số chuyển dần từ kinh tế tự cấp sang kinh tế hàng hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Trên lĩnh vực lâm nghiệp đã tổ chức nghiên cứu và xây dựng hệ thống rừng giống, các đề án bảo vệ rừng đặc dụng, phòng hộ, bảo vệ các động vật quý hiếm. Thực hiện chương trình lâm nghiệp và định canh định cư, tổ chức thành công các mô hình nông - lâm kết hợp, vườn rừng trên đất dốc, nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ, đánh giá hiệu quả việc giao đất, giao rừng; xây dựng cơ sở khoa học của việc phòng chống cháy rừng, phòng trừ bệnh hại rừng thông, điều tra và phát triển nấm dưới tán rừng, điều tra nguồn dược liệu đặc thù của tỉnh Lâm Đồng…

Về thủy lợi, quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu nhằm thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích cây lương thực, cây công nghiệp. Triển khai có hiệu quả các đề án phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai cho một số vùng thường bị ảnh hưởng ở trong tỉnh. Xây dựng nhiều công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn cho nhân dân vùng sâu, đảm bảo nước sạch cho tất cả các huyện thị trong tỉnh. Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nghiên cứu quá trình bồi lắng lòng hồ, phục vụ cho công tác thủy lợi.

Trong công nghiệp, đã nghiên cứu và triển khai các đề án thuộc chương trình phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (giai đọan 1991 - 1995 và đến năm 2000) với các nội dung cụ thể như chế biến nông - lâm sản; sản phẩm tiểu thủ công nghiệp; vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản; ứng dụng năng lượng mặt trời sản xuất điện, đun nước nóng. Một số mặt hàng nông sản chế biến (chè, cà phê, rau) và vật liệu xây dựng (cách nhiệt, chịu lửa) đã được đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng và mở rộng sản xuất đáp ứng thị trường.

Chương trình phát triển mạng lưới điện nông thôn trong những năm gần đây đã đem lại kết quả cao: từ chỗ lắp đặt các trạm thủy điện có công suất nhỏ phục vụ sinh hoạt đến việc thiết kế xây dựng các hệ thống đập thủy điện có quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, các huyện, thị, thành của tỉnh đều có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ dân toàn tỉnh có điện là 95%, tỷ lệ số hộ dân nông thôn có điện là 86%. Những hoạt động này đã và đang góp phần đẩy mạnh mục tiêu điện khí hóa nông thôn.

Lĩnh vực nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn trong thập niên trở lại đây đã có sự chuyển biến rõ nét theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, khẳng định quan điểm cần bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người. Những nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn đã được ban chỉ đạo Chương trình khoa học xã hội - nhân văn tham mưu cho Tỉnh ủy chỉ đạo tập trung nghiên cứu nhiều hơn về con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể đã có những nghiên cứu về các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục trong vùng dân tộc thiểu số, hệ thống chính trị cơ sở; những vấn đề liên quan đến dân số, lao động và việc làm, công tác thanh niên, hướng nghiệp...; giải pháp thực hiện công tác bảo vệ trẻ em trước các tệ nạn xã hội; tổ chức thu thập và biên soạn các tư liệu văn hóa - lịch sử về Lâm Đồng - Đà Lạt; nghiên cứu và xuất bản địa chí Lâm Đồng, địa chí Đà Lạt; biên soạn từ điển tiếng Cơ Ho, Mạ và Chu Ru.

 Về văn hóa - thông tin, đã tiến hành nghiên cứu và chỉnh lý các hiện vật thu được từ kết quả khai quật di chỉ Đại Lào, Bảo Lộc. Hợp tác với đoàn chuyên gia khảo cổ Nhật Bản thăm dò, khảo sát di chỉ văn hóa Cát Tiên đã thu được khá nhiều hiện vật. Một số đề tài nghiên cứu văn hóa truyền thống các dân tộc Mạ, Cơ Ho, bước đầu hình thành bộ sưu tập văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống các dân tộc bản địa Lâm Đồng. Những kết quả nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn đã phục vụ cho công tác lãnh đạo và quản lý, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc đặt ra ở địa phương.

Về du lịch, từ năm 1991, đã có nhiều đề tài nghiên cứu tập trung vào đánh giá tiềm năng, đề xuất các giải pháp phát triển du lịch của tỉnh như nghiên cứu về du lịch sinh thái, du lịch hội nghị, hội thảo tại Đà Lạt; đề xuất các cơ chế quản lý du lịch và giải pháp nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của tỉnh; ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động thương mại - du lịch; nghiên cứu về nguồn nhân lực phát triển du lịch, môi trường du lịch, ngành nghề thủ công của đồng bào dân tộc thiểu số phục vụ du lịch; bảo tồn kiến trúc Đà Lạt; nghiên cứu về tour, tuyến, điểm du lịch và thông tin du lịch của Đà Lạt - Lâm Đồng.

Ảnh: CBCC Sở Khoa học và Công nghệ - 2009

 3. Hoạt động nghiên cứu bảo vệ môi trường

Công tác nghiên cứu, bảo vệ môi trường trong 10 năm qua đã có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương như tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành các văn bản pháp quy; xây dựng chiến lược quản lý chất thải đến năm 2010; triển khai các nội dung hoạt động theo Chỉ thị 36/CT-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là những cơ sở khoa học giúp các cấp, các ngành trong việc hoạch định những giải pháp liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường của tỉnh như nguồn nước, rừng, khoáng sản, đa dạng sinh học… Những hoạt động này đã góp phần làm chuyển biến, nâng cao nhận thức của cộng đồng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong việc chấp hành Luật Bảo vệ môi trường.

Một số đề tài, dự án nổi bật như nghiên cứu thực trạng ô nhiễm nước của hồ Xuân Hương; thực trạng ô nhiễm đất trồng rau của thành phố Đà Lạt; lập quy hoạch bãi chôn lấp rác cho thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt; nghiên cứu về tai biến địa chất, trượt lở đất trên địa bàn tỉnh 
Lâm Đồng...

4. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin

Nằm trong nội dung chương trình phát triển công nghệ thông tin quốc gia, Lâm Đồng đã triển khai nhiều dự án xây dựng hệ thống mạng ở các cơ quan khối Đảng, cơ quan quản lý nhà nước và những ngành trọng yếu tại địa phương như ngân hàng, kho bạc, bưu điện, điện lực... Nhiều trung tâm, dịch vụ về tin học được hình thành phục vụ nhu cầu đào tạo. Các hội nghị, hội thảo, tập huấn về công nghệ thông tin được tổ chức nhằm phổ biến và trang bị kiến thức, thông tin cần thiết cho cán bộ lãnh đạo, chuyên viên ở các sở, ban, ngành trong tỉnh.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực lưu trữ và khai thác các nguồn dữ liệu dưới dạng thông tin điện tử, cơ sở dữ liệu GIS đã được Sở KHCN triển khai, chuyển giao đến các ngành có liên quan.

Năm 2005, UBND tỉnh Lâm Đồng đã duyệt và chính thức cho ra đời Trang tin điện tử Lâm Đồng (website Lâm Đồng). Đây là công cụ thông tin giao dịch quản lý qua mạng rất thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị trong tỉnh. Hiện đã có 25 đơn vị xây dựng website kết nối với trang tin này, trong đó có website của Báo Lâm Đồng và Đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng. Trang thông tin điện tử Lâm Đồng là địa chỉ tin cậy cung cấp thông tin tư liệu về Đà Lạt - Lâm Đồng, góp phần đưa hình ảnh của Lâm Đồng, Đà Lạt đến gần hơn với bạn bè trong nước và quốc tế.

5. Hoạt động quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng

Công tác quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng được hình thành từ rất sớm, ngay từ sau khi Ban Khoa học Kỹ thuật được thành lập. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trong quản lý KHCN. Hoạt động quản lý định mức vật tư kỹ thuật, kiểm định các phương tiện đo, kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa lưu thông, giải quyết các tranh chấp về đo lường - chất lượng đã góp phần ổn định sản xuất, thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa, đảm bảo việc lưu hành hàng hóa đạt chất lượng theo tiêu chuẩn được công bố.

Trong thời gian qua, Sở KHCN đã tham mưu giúp UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản pháp quy về quản lý chất lượng, xử lý vi phạm về đo lường, chất lượng; xây dựng và ban hành một số tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn vùng và quy định tạm thời về chất lượng sản phẩm địa phương. Triển khai áp dụng có hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 tại đơn vị và các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, công ty cổ phần..., giúp hoạt động quản lý được cải tiến, bảo đảm tính khoa học, chính xác.

Tính đến nay, tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ cho trên 48 cơ quan, đơn vị quản lý hành chính và hoạt động sự nghiệp trong tỉnh áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả trong công tác quản lý của các doanh nghiệp và dịch vụ hành chính công. Hệ thống quản lý chất lượng là một trong những công cụ hữu ích góp phần cải cách thủ tục hành chính theo hướng “cơ chế một cửa”, nổi bật là mô hình ứng dụng ISO trong quản lý hành chính mở rộng đến cấp phường, xã  của UBND thành phố Đà Lạt.

Nhìn chung, công tác quản lý về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng trong thời gian qua đã được củng cố và tăng cường tương đối toàn diện, triển khai thực hiện tốt các quy định của Nhà nước, tham mưu kịp thời cho lãnh đạo địa phương, đưa công tác quản lý vào nề nếp. Những đổi mới trong hoạt động tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng đã đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và toàn xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

6. Hoạt động thông tin KHCN

Hoạt động thông tin tư liệu KHCN phục vụ công tác quản lý và nghiên cứu trên địa bàn tỉnh đã có nhiều thay đổi tích cực hơn. Tập san Thông tin KHCN đã được phát hành định kỳ hàng quý từ 1993 đến nay. Bản tin KHCN phát hành 3 kỳ/tháng từ năm 1997 phục vụ lãnh đạo và nhiều đối tượng trong tỉnh. Những năm gần đây, hoạt động thông tin đã chuyển đổi dần theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức thu thập các dạng thông tin điện tử và truy cập trên mạng. Ngoài các ấn phẩm thông tin dưới dạng truyền thống, Sở KHCN đã phát hành nhiều đợt đĩa CD “Đà Lạt - Lâm Đồng, những tư liệu khảo cứu” (1.500 đĩa CD); đã xây dựng hơn 40 điểm thông tin KHCN phục vụ nông thôn tại các xã, huyện tạo thành mạng lưới thư viện điện tử ở nông thôn. Đây là một trong những hoạt động tích cực góp phần tuyên truyền, quảng bá thông tin của địa phương đến với nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài tỉnh.

7. Hoạt động sở hữu trí tuệ

Thời gian gần đây, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Lâm Đồng đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm và nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ. Hiện nay, toàn tỉnh đã có 473 đơn đăng ký nhãn hiệu, trong đó Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp 300 văn bằng cho 180 doanh nghiệp, 27 kiểu dáng công nghiệp và 11 sáng chế. Tỉnh cũng đang tiến hành xây dựng nhãn tập thể cho các sản phẩm chè B’Lao, cà phê Di Linh, rau Đà Lạt, hoa Địa lan Đà Lạt, dứa Cayenne Đơn Dương.

 8. Hoạt động KHCN các huyện, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt

Nhiệm vụ KHCN cấp huyện đã được quan tâm triển khai từ sau Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) xác định nhiệm vụ KHCN được triển khai từ Trung ương đến cấp huyện. Tại thành phố Đà Lạt, do đặc thù có nhu cầu ứng dụng KHCN và tiềm lực về con người rất lớn nên hoạt động này đã được triển khai từ những năm 1984, 1985. Ban Khoa học Kỹ thuật của thành phố Đà Lạt được thành lập, cùng với sự hình thành Trạm nuôi cấy mô Đà Lạt trên cơ sở tiếp nhận Trạm nuôi cấy mô khoai tây của Viện Khoa học Việt Nam chuyển giao.

Đến năm 2007, nhiệm vụ KHCN cấp huyện đã được triển khai đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh. Đến nay, đã có hơn 100 nhiệm vụ, đề tài, dự án KHCN do các huyện, thị, thành trực tiếp quản lý, thực hiện dưới sự tham mưu của phòng công thương hoặc phòng kinh tế và Hội đồng KHCN cấp huyện.

9. Hoạt động thanh tra KHCN

Lĩnh vực thanh tra KHCN đầu tiên được triển khai ở tỉnh Lâm Đồng là thanh tra về tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng. Từ khi lĩnh vực môi trường được sáp nhập chung với lĩnh vực KHCN, thanh tra KHCN môi trường tỉnh Lâm Đồng thuộc Sở KHCN được hình thành, và nay là thanh tra KHCN, thực hiện chức năng thanh tra nhà nước chuyên ngành về KHCN; tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng; an toàn bức xạ Hạt nhân; sở hữu trí tuệ… Trong quá trình trên hai mươi năm hoạt động, thanh tra KHCN đã có trên 100 cuộc thanh, kiểm tra với số tiền xử phạt gần 200 triệu đồng. Hoạt động thanh tra đã góp phần tăng cường và phát triển công tác quản lý nhà nước về KHCN của tỉnh.

Ba mươi năm qua (1979 - 2009), Sở KHCN tỉnh Lâm Đồng đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, có nhiều cố gắng đóng góp cho sự nghiệp phát triển KHCN của tỉnh Lâm Đồng. Tập thể cán bộ đoàn kết, phát huy dân chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên của Sở liên tục giữ vững danh hiệu trong sạch, vững mạnh trong nhiều năm.

Với đội ngũ cán bộ KHCN tỉnh nhà ngày càng lớn mạnh cũng như sự hợp tác về KHCN của các trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu KHCN trong cả nước đã đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Những thành quả đạt được của KHCN Lâm Đồng trong 30 năm qua thật vẻ vang và đáng tự hào. Nhưng bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những nhiệm vụ trước mắt cũng hết sức to lớn, đòi hỏi các nhà quản lý, nhà khoa học của Lâm Đồng phải có những nỗ lực mới để đạt những thành tích cao hơn.

 


Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng