Tư liệu
Hiệu lực phác đồ LAP điều trị Helicobacter pylori tại Bệnh viện II Lâm Đồng năm 2014-2016
Đề tài - Dự án
Y tế
TS.BS. Huỳnh Văn Thiên
2016
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Tài liệu này chỉ chia sẻ cho thành viên, bạn cần đăng ký thành viên trên hệ thống để tải tài liệu về.
Nếu chưa phải là thành viên, bạn có thể liên hệ với ban quản trị theo địa chỉ để được cấp tài khoản đăng nhập:
  • Địa chỉ: Tầng 9, Khu Trung tâm Hành chính - Số: 36 Trần Phú - Phường 4 - Đà Lạt -Lâm Đồng
  • Email: sokhcn@lamdong.gov.vn
  • Điện thoại: 063.3821377

Tình hình kháng thuốc của Helicobacter pylori (Hp) ngày càng tăng trên toàn thế  giới đã  ảnh hưởng đến việc chọn lựa phác đồ  điều trị thực nghiệm, và đã có đề nghị cần thử độ kháng thuốc trước khi chọn phác đồ diệt Hp. Bên cạnh đó, những phác đồ điều trị Hp hiện nay rất nhiều, bác sĩ chọn lựa tùy vào nguồn tài liệu đọc được, độ kháng thuốc do vậy cũng khác nhau tùy vào sự phổ biến của thuốc được dùng.  

Trong các phác đồ  điều trị  hiện nay, Clarithromycin (CLA) và Amoxcilline (AMX) đều là những thuốc được chỉ định tương đối phổ biến cho những bệnh nhiễm trùng, nhất là  các bệnh lý tai mũi họng, cũng là nguyên nhân góp phần tăng đề kháng của Hp đối với kháng sinh. Tìm trên y văn thế giới, việc đề kháng được báo cáo khắp nơi trong đó châu Á chiếm tỷ lệ đáng kể.  

Tại Việt Nam, nghiên cứu của bác sĩ Dũng và cộng sự trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam báo cáo tỷ lệ kháng thấp nhất với AMX là 7,7% và CLA là 43,6%, cao nhất với Metronidazol (MNZ) là 83,6%. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh thì kháng AMX 10%; MNZ 38% và CLA 85%.  

Nghiên cứu tại Bệnh viện  II Lâm Đồng trong 3 năm (2012-2014), trên 728 cas Hp (+) cho thấy tỷ lệ thành công của phác đồ chuẩn 3 thuốc dựa trên CLA (CLA-AMX-PPI) dùng trong 10 ngày chỉ 49% và 3 thuốc với MNZ (CLA-MNZ-PPI)  10 ngày  là 37%, là những con số thấp không ngờ. 

Do việc cá nhân hóa trị liệu qua đánh giá độ nhạy kháng sinh trước khi quyết định chọn phác đồ điều trị vẫn là quy trình thiếu tính khả thi tại địa phương; liệu trình điều trị 10 ngày có lẽ đã ảnh hưởng không tốt lên kết quả điều trị; từ đó đặt ra sự cần thiết xây dựng một phác đồ điều trị có tỷ lệ thành công chấp nhận được để áp dụng không chỉ  tại bệnh viện mà trong phạm vi toàn tỉnh, góp phần cung cấp một số dữ liệu về điều trị một bệnh lý ngày càng phổ biến trên thế giới. Đây là những lý do cho việc thực hiện nghiên cứu này. 

Bạn cần đăng nhập đề tải tài liệu
Nội dung khác

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây