Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Những điểm mới của cơ chế tài chính cho nhiệm vụ KH&CN và một số gợi ý khi thanh tra các nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Nguyễn Thị Ngọc Lý
2017
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Quy định về Quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước

Đối với lĩnh vực KH&CN, yêu cầu quản lý tài sản được đầu tư, trang bị phục vụ nhiệm vụ KH&CN cũng như kết quả được tạo ra trong quá trình thực hiện có tính đặc thù. Hiện nay, việc quản lý và xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN từ ngân sách nhà nước (NSNN) chưa được thực hiện thống nhất, thậm chí có nơi, có chương trình, dự án chưa được triển khai thực hiện. Vì vậy, việc ban hành hướng dẫn quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN là thật sự cần thiết.

Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC Quy định về Quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước nhấn mạnh một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, đối với tài sản được trang bị để triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN, Thông tư quy định thêm một số hình thức xử lý tài sản có tính chất đặc thù như: (i) Ưu tiên bán trực tiếp cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN do các tài sản được trang bị cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN gắn với việc phát huy kết quả nghiên cứu, mô hình ứng dụng KH&CN và thường chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số kinh phí thực hiện (phần còn lại do doanh nghiệp tự bỏ kinh phí). Vì vậy, nếu bán trực tiếp cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN đó sẽ phát huy tốt hơn công năng sử dụng, giảm chi phí và thời gian xử lý tài sản; (ii) Nhà nước chuyển giao không bồi hoàn tài sản được trang bị để thực hiện nhiệm vụ KH&CN liên kết quy định tại Điều 32 Luật KH&CN và khoản 3 Điều 38 Nghị định số 8/2014/NĐ-CP ngày 24/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KH&CN. Lý do: tại khoản 3 Điều 38 Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ghi rõ: “Nhiệm vụ KH&CN liên kết đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này được Nhà nước hỗ trợ không thu hồi vốn đầu tư cho các dự án đối với các nội dung liên quan đến hoạt động KH&CN của dự án”.

Thứ hai, đối với tài sản là kết quả của quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN, Thông tư quy định sau khi được đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN từ mức “Đạt” trở lên, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN có trách nhiệm kiểm kê kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, báo cáo đại diện chủ sở hữu nhà nước để thực hiện bàn giao. Đối với tài sản của nhiệm vụ KH&CN liên kết được quy định tại Điều 32 Luật KH&CN và Điều 32 Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 28/01/2014 của Chính phủ thuộc sở hữu của tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN.

Về hình thức xử lý: Thông tư quy định riêng cho 2 nhóm kết quả nghiên cứu: (i) Đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng NSNN dưới dạng tài sản vô hình (kết quả nghiên cứu), việc giao quyền sở hữu, quyền sử dụng cho đối tượng thụ hưởng thực hiện theo hướng dẫn của Bộ KH&CN tại Thông tư số 15/2014/TT-BKHCN ngày 13/6/2014 quy định trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng NSNN. (ii) Đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng NSNN không thuộc phạm vi trên, Thông tư quy định hình thức xử lý tài sản gồm: (1) Nhà nước giao tài sản cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN; (2) Bán tài sản;
(3) Điều chuyển tài sản.

Thực trạng công tác quản lý và sử dụng tài sản của tổ chức chủ trì trước đây gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, thậm chí xảy ra tình trạng lãng phí, sử dụng tùy tiện tài sản do chưa có cơ chế, quy định quản lý chặt chẽ và hướng dẫn chi tiết cụ thể; từ đó khiến công tác thanh tra đôi khi chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở tổ chức chủ trì và các cá nhân có liên quan có trách nhiệm bảo quản tài sản, báo cáo cơ quan quản lý có thẩm quyền để có phương án xử lý, giải quyết. Với việc quy định chi tiết về nguyên tắc, hình thức, thẩm quyền và trình tự xử lý các loại tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng NSNN thì vai trò của thanh tra nên xem xét việc thực hiện đúng trách nhiệm, đúng thẩm quyền của tổ chức chủ trì và cơ quan quản lý; việc thực hiện đúng các quy định tại Thông tư trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản.

Đối với việc trang bị tài sản nên xem xét: (1) Phê duyệt trang bị tài sản có phù hợp với nội dung thực hiện nhiệm vụ không, có phản ánh đúng thực trạng về tình hình tài sản hiện có của tổ chức chủ trì không?; (2) Tài sản có được sử dụng đúng mục đích không? (3) Tài sản có được hạch toán, theo dõi, tính hao mòn và báo cáo đúng quy định hay không? (Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06/11/2014 quy định chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng NSNN); (4) Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng tài sản có hợp lý không?

Trong quá trình xử lý tài sản, công tác thanh tra nên chú ý đến hình thức xử lý như: Xem xét việc bán hoặc thanh lý tài sản có đảm bảo đúng quy định không? Tài sản có đáp ứng yêu cầu về thanh lý không? (thể hiện ở Biên bản đánh giá tài sản, sổ sách tính hao mòn tài sản); Thủ tục thanh lý đầy đủ, đúng trình tự không? Xem xét yếu tố giá của tài sản (việc thành lập Hội đồng định giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá có đảm bảo yêu cầu về chuyên môn, năng lực không, giá được thẩm định có sát với giá trị trường của tài sản cùng loại, cùng tiêu chuẩn kỹ thuật không); Nộp tiền bán tài sản có đảm bảo theo quy định không?...

Về trình tự xử lý tài sản, Thông tư quy định chi tiết các bước xử lý, theo đó công tác thanh tra cũng nên chú ý đến vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền của tổ chức chủ trì và cơ quan quản lý nhiệm vụ đối với tài sản như: Tổ chức chủ trì có bảo quản tài sản và hồ sơ tài sản theo quy định khi nhiệm vụ kết thúc không (vẫn thực hiện mở sổ theo dõi tài sản), có thực hiện việc kiểm kê tài sản và đề xuất phương án xử lý đúng thời hạn không?; đơn vị quản lý nhiệm vụ có thực hiện đúng trách nhiệm tổng hợp, lập phương án xử lý tài sản kịp thời theo quy định không? Từ đó qua thanh tra có thể thấy được những khó khăn, vướng mắc (về thời gian, thủ tục, những phát sinh) mà tổ chức chủ trì gặp phải trong quá trình thực hiện trình tự xử lý. Đây cũng là ١ kênh tham khảo để đánh giá yếu tố lỗi mà tổ chức chủ trì gặp phải (do khách quan, chủ quan).

Như vậy, Thông tư 16 quy định khá rõ ràng và chi tiết về quản lý, xử lý tài sản, giúp tổ chức chủ trì nhiệm vụ dễ dàng thực hiện; giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý tài sản chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, mặc dù có hiệu lực thực hiện trong thời gian ngắn nhưng hoạt động thanh tra cũng đã gặp phải một số vướng mắc: đối với nhiệm vụ KH&CN được NSNN hỗ trợ một phần thì việc thống nhất phương án xử lý tài sản là kết quả nhiệm vụ KH&CN còn gây nhiều tranh cãi giữa các đồng chủ sở hữu, vì trên thực tế việc thống nhất này là rất khó khăn và không hiệu quả. Nhiều ý kiến cho rằng nhà nước nên giao (cho) toàn bộ tài sản đó cho tổ chức chủ trì để phát huy hiệu quả sử dụng. Hoặc khó khăn về việc quy định cụ thể, chi tiết về hình thức xử lý đối với tài sản vô hình là kết quả của nhiệm vụ KH&CN mà NSNN đóng góp một phần khi chưa có quy định.

Với thực trạng trên, vai trò của công tác thanh tra lại càng được chú trọng trong việc phản ánh đúng thực trạng để đưa ra các kiến nghị, đề xuất hay biện pháp xử lý giúp tổ chức chủ trì, cơ quan quản lý thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình.

Kết luận

Có thể nói, các văn bản được ban hành thể hiện những nét đột phá trong cơ chế quản lý tài chính các nhiệm vụ KH&CN, khắc phục những tồn tại, vướng mắc, cản trở hoạt động nghiên cứu khoa học thời gian qua. Với ý nghĩa là một khâu trong chu trình quản lý KH&CN, song hành cùng công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN thì hoạt động thanh tra cũng nên có những cách tiếp cận mới cho phù hợp.

Thanh tra nhiệm vụ KH&CN là hoạt động có tính đặc thù về đối tượng (những nhà khoa học, tổ chức KH&CN (tổ chức, cá nhân có tri thức bậc cao)); về nội dung (phần chuyên môn thường có tính chuyên ngành sâu). Do vậy, kết quả thanh tra cũng cần có tính đặc thù: vừa đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm túc nhưng KH&CN cũng phải được tôn trọng và tạo điều kiện phát triển; mặt tích cực của cơ chế quản lý KH&CN phải được phát huy, nhân rộng và mặt tiêu cực, hạn chế phải được kiểm soát, tránh bị lợi dụng.

Đầu tư từ NSNN cho nghiên cứu ngày càng lớn với kỳ vọng KH&CN thực sự là động lực của phát triển. Thanh tra là “nhìn sâu vào bên trong” để hiểu được, đánh giá đúng bản chất sự vật, hiện tượng. Vì thế, khi xem xét, đánh giá việc quản lý, sử dụng kinh phí của các nhiệm vụ KH&CN trong công tác thanh tra nhiệm vụ KH&CN cũng là góp phần trả lời câu hỏi về hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu khoa học, trả lại cho khoa học tính khách quan, trung thực, chính xác, qua đó tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về KH&CN

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH


HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 41/2020 - 10/11/2020
Số 41/2020 Xem thêm
Số 40/2020 - 10/11/2020
SỐ 39/2020 - 10/11/2020
số 38/2020 - 26/10/2020
số 37/2020 - 26/10/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 6.579.094
  • Đang online: 48
  • Trong tuần: 4.049
  • Trong tháng: 62.495
  • Trong năm: 1.694.065