Tư liệu
Công nghệ sinh học thúc đẩy nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Lâm Đồng giai đoạn 2016 - 2020
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Nguyễn Văn Sơn
2016
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Lâm Đồng có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên đất đai, nguồn nước, nguồn nhân lực và điều kiện sinh thái phù hợp phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nhất là những loại nông sản có ưu thế như rau, hoa cao cấp có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới; các loại cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê), bò sữa, cá nước lạnh cũng được phát triển mạnh; là địa phương thu hút nguồn vốn FDI trong nông nghiệp khá lớn, tạo cơ hội cho nông dân tiếp cận và ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất.

1. Tình hình phát triển công nghệ cao tại Lâm Đồng

Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 43.084 ha sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao, chiếm 16,4% diện tích đất canh tác, gồm cây rau 12.655 ha, cây hoa 2.424 ha, cây đặc sản 105 ha, cây chè 5.854 ha, cây cà phê 18.341 ha, lúa chất lượng cao 3.705 ha. Tổng đàn bò sữa toàn tỉnh là 15.720 con, có nhà máy chế biến sữa với công suất 40 tấn/ngày. Tổng diện tích ao nuôi cá nước lạnh đạt 50 ha, sản lượng đạt 500 tấn/năm. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) đạt 30% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp; năng suất giá trị sản phẩm cây trồng, vật nuôi khi áp dụng công nghệ cao tăng 25-30%, giúp tăng lợi nhuận trên 30% so với doanh thu; tỷ trọng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác của toàn tỉnh năm 2014 là 130 triệu đồng/ha; diện tích sản xuất NNCNC doanh thu đạt gấp hơn 2 lần giá trị sản xuất bình quân toàn tỉnh, sản xuất rau cao cấp đạt bình quân 450-500 triệu đồng/ha, sản xuất hoa cao cấp đạt bình quân 800-1.200 triệu đồng/ha.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 04 doanh nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao (Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Rừng Hoa Đà Lạt, Công ty Dalat Hasfarm, Công ty TNHH Dịch vụ thương mại Trường Hoàng; Công ty TNHH Đà Lạt G.A.P). Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp như Công ty TNHH trang trại Lang Biang, Công ty TNHH liên doanh Organik Đà Lạt, Công ty TNHH Hoa Mặt trời; Công ty An Phú Lacue (Nhật Bản); Công ty TNHH KBIL VINA (Hàn Quốc… mặc dù chưa được công nhận nhưng các doanh nghiệp này đã đầu tư áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ hiện đại, tiên tiến cho doanh thu rất cao từ 1-3 tỷ đồng/ha/năm.

Sản xuất trong nhà kính tự động tại Công ty Dalat Hasfarm
Sản xuất trong nhà kính tự động tại Công ty Dalat Hasfarm

Các công nghệ tiên tiến như công nghệ sản xuất giống, công nghệ tưới, các quy trình canh tác hiện đại, cơ giới hóa trong sản xuất và các công nghệ sau thu hoạch được áp dụng phổ biến trong sản xuất. Nổi bật nhất là việc tập trung ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu, bệnh hại, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của địa phương, đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

2. Một số kết quả ứng dụng công nghệ sinh học

2.1. Ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo và sản xuất giống

Công nghệ nhân giống in vitro ở Đà Lạt được nghiên cứu và chuyển giao sản xuất từ những năm 1980 và được phát triển mạnh trong những năm gần đây. Một trong những lĩnh vực mạnh nhất của việc ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô là nhân nhanh cây giống phục vụ cho sản xuất. Hiện tại, Lâm Đồng có khoảng 50 cơ sở ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật. Hàng năm, các cơ sở này cung cấp cho thị trường khoảng 30 triệu cây giống cấy mô các loại như giống Khoai tây, Dâu tây, Cúc, Cẩm chướng, Đồng tiền, hoa Lan, Salem, Bibi,… Đây là nguồn cây giống gốc ban đầu phục vụ cho các vườn ươm tiếp tục nhân giống cho sản xuất. Hơn nữa, một số cơ sở đã có các hợp đồng xuất khẩu cây giống in vitro sang các nước châu Âu như Công ty cổ phần Công nghệ Sinh học Rừng Hoa Đà Lạt (FBIO), Công ty Công nghệ sinh học Bảo Nông, Vườn ươm PH và một số cơ sở tư nhân lấy đầu mối là FBIO với số lượng khoảng 10 triệu cây giống in vitro mỗi năm.

Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong lưu giữ tập đoàn quỹ gen các giống rau, hoa cũng có ý nghĩa to lớn trong việc lưu giữ, bảo tồn đa dạng sinh học cho các nguồn gen, giúp làm phong phú thêm nguồn vật liệu lai tạo giống mới hoặc tái sản xuất khi thị trường yêu cầu. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa là cơ quan mạng lưới của Trung tâm Tài nguyên Di truyền thực vật, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giao nhiệm vụ lưu giữ tập đoàn các giống Khoai tây, Dâu tây, Cẩm chướng, Hồng, Lay-ơn. Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao Kỹ thuật Nông nghiệp Lâm Đồng được UBND tỉnh Lâm Đồng giao nhiệm vụ lưu giữ quỹ gen tập đoàn một số giống hoa chủ lực của Lâm Đồng.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cao Đức Phát thăm vườn ươm các giống rau công nghệ cao tại xã Lạc Lâm, Đơn Dương
Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cao Đức Phát thăm vườn ươm các giống rau công nghệ cao tại xã Lạc Lâm, Đơn Dương

Một trong những thành công khác của việc ứng dụng công nghệ sinh học tại Lâm Đồng là việc kết hợp hài hòa giữa công nghệ sinh học truyền thống và công nghệ sinh học hiện đại trong tạo giống cây trồng mới nhằm rút ngắn thời gian, sớm đưa các giống mới vào sản xuất. Bằng phương pháp lai hữu tính hoặc dùng các phương pháp gây đột biến và chọn lọc cá thể, sau đó đưa các cá thể đó nhân nhanh trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp nuôi cấy mô, các nhà tạo giống đã tiết kiệm đáng kể thời gian để cho ra một giống mới. Lấy ví dụ cho cây Khoai tây, từ một cá thể ban đầu được chọn lọc, nếu cứ nhân giống theo phương pháp thông thường, với chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây Khoai tây là 3 tháng trên đồng ruộng và 4 tháng ngủ nghỉ thì 7 tháng sau mới có được từ 5-10 củ giống cho vụ sau. Trong khi đó, nếu đưa mẫu nhân cấy in vitro trong 7 tháng, số lượng cây giống thu được khoảng 15.000 cây. Hiện nay, một số cơ sở như Công ty Trường Thọ và Trường Đại học Đà Lạt đang đưa vào nghiên cứu thử nghiệm phương pháp nuôi cấy theo hướng công nghiệp bằng bioreactor, nếu thành công thì hệ số nhân cấy còn tăng lên gấp hàng trăm ngàn lần. Điều này cũng mở ra một hướng mới trong việc phát triển ứng dụng sản xuất sinh khối để tách chiết các chế phẩm phục vụ cho sản xuất và đời sống tại Lâm Đồng.

Công nghệ ghép giống cũng là một ứng dụng công nghệ sinh học được sử dụng rộng rãi tại Lâm Đồng. Đây là phương pháp nhanh nhất để cải thiện nguồn giống thoái hóa, nhiễm sâu, bệnh, già cỗi, thay thế vào đó là các giống có năng suất, chất lượng tốt, kháng sâu, bệnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa một cách nhanh nhất có thể. Tại Lâm Đồng, biện pháp ghép cành được ứng dụng trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau từ cây công nghiệp, cây ăn quả đến rau, hoa như cà phê, ca cao, bơ, các cây họ cà, hoa hồng,…

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cao Đức Phát thăm vườn ươm các giống rau công nghệ cao tại xã Lạc Lâm, Đơn Dương
Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cao Đức Phát thăm vườn ươm các giống rau công nghệ cao tại xã Lạc Lâm, Đơn Dương

Việc ứng dụng công nghệ ghép cũng đã giải quyết được yêu cầu về giống trong sản xuất. Đồng thời việc sử dụng mắt ghép là các giống có giá trị thương mại cao, có sức sinh trưởng phát triển mạnh hơn đã hạn chế sự gia tăng của sâu bệnh hại, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất.

2.2. Ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, xử lý đất và bảo vệ môi trường nông nghiệp

Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật, xử lý đất và bảo vệ môi trường ở Lâm Đồng không còn là vấn đề mới mẻ. Một số biện pháp và công nghệ sinh học được ứng dụng trong thời gian qua như sau:

- Dùng gốc ghép kháng bệnh: điển hình là công nghệ kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn, được ứng dụng trên 55 vườn ươm giống cây con ở hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng, đáp ứng nhu cầu cây giống cho khoảng trên 7.000 ha cà chua mỗi năm của tỉnh. Tiến bộ kỹ thuật này đã giúp người sản xuất loại bỏ được mối lo về bệnh héo rũ do vi khuẩn Ralstonia Solanacearum, một dịch bệnh có thể gây tổn thất 50-100% ruộng cà chua trước đó, góp phần gia tăng 20-50% năng suất, sản lượng cà chua Lâm Đồng. Theo thống kê, cây cà chua ghép góp phần tăng thêm thu nhập cho người nông dân bình quân 35 triệu đồng/ha. Với khoảng trên 7.000 ha cà chua mỗi năm, giúp nhà nông Lâm Đồng có thêm khoảng hơn 200 tỷ đồng mỗi năm. Trên cây công nghiệp và cây ăn trái, kỹ thuật ghép giống cũng được ứng dụng rộng rãi như chè, cà phê, điều, ca cao, chanh dây, bơ, cam cara… Việc ứng dụng kỹ thuật ghép là giải pháp hữu ích nhằm tạo ra cây giống có bộ rễ khỏe, có khả năng chịu hạn tốt của gốc ghép và phần ngọn là các giống mới có khả năng cho năng suất chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho ngành nông nghiệp của tỉnh.

- Dùng các thiên địch: các công trình nghiên cứu về nuôi ong ký sinh (Diadegma semiclausum) phòng trừ sâu tơ hại cải bắp và bọ xít mù thuốc lá (Nesidiocoris tenuis) trong quản lý dịch hại tổng hợp trên cây cà chua đã được Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng thực hiện thành công và ứng dụng trong sản xuất từ năm 1995 đến nay là một trong những thành tựu đáng kể của việc sử dụng thiên địch để bảo vệ thực vật trên diện rộng tại Lâm Đồng. Ngoài ra, trong những năm gần đây, việc dùng các loài sinh vật có lợi, các thiên địch trong sản xuất đã được một số công ty áp dụng như Dalat Hasfarm (dùng nhện bắt mồi để tiêu diệt nhện đỏ hại hoa hồng, dùng tuyến trùng có ích để tiêu diệt trứng và ấu trùng ruồi nhuế hại cây hoa Tiểu quỳnh); Công ty Fresh Studio (dùng nhện bắt mồi để tiêu diệt bọ phấn trên ớt ngọt); Công ty Organik dùng các loài ruồi thiên địch Aphidius ervi, Aphelinus abdominalis, Aphidius colemani để tiêu diệt rầy mềm.

Các đối tác nước ngoài tham quan trang trại rau tại Công ty Đà Lạt G.A.P
Các đối tác nước ngoài tham quan trang trại rau tại Công ty Đà Lạt G.A.P

- Ứng dụng các vi sinh vật trong sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật: các cơ quan nghiên cứu, các công ty phân bón thuốc bảo vệ thực vật cũng đã thực hiện các nghiên cứu ứng dụng công nghệ vi sinh, nghiên cứu phân lập các chủng vi sinh vật có ích để sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, toàn tỉnh có 5 phòng thí nghiệm có đủ điều kiện phân lập và nuôi cấy vi sinh vật góp phần trong việc chủ động về nguồn giống sản xuất; có 10 công ty sản xuất các loại phân bón hữu cơ.

+ Nhóm vi sinh vật: vi khuẩn Bacillus Thuringiensis var. được nghiên cứu sử dụng làm thuốc trừ sâu từ những năm 1971. Cho đến nay, các sản phẩm thuốc trừ sâu được bào chế từ loại vi khuẩn này đã được sử dụng rất rộng rãi trong phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh. Tại thành phố Đà Lạt, ông Đỗ Trọng Hùng (80 Bùi Thị Xuân, Đà Lạt) đã sản xuất được chế phẩm Bacillus Thuringiensis var. osmosisiensis có tác dụng phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, sâu, khoang… hại cây trồng. Chế phẩm này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam theo Quyết định số 22/2005/QĐ-BNN, ngày 22/4/2005.

+ Nhóm có nguồn gốc nấm: được ứng dụng phổ biến nhất là nấm đối kháng Trichoderma vừa có tác dụng đề kháng một số nấm bệnh gây hại trên bộ rễ cây trồng như: bệnh vàng lá chết nhanh, còn gọi là bệnh thối rễ do nấm Phytophthora palmivora gây ra; hay bệnh vàng héo rũ, còn gọi là bệnh héo chậm do một số nấm bệnh gây ra:  Fusarium solani, Pythium sp, Sclerotium rolfsii.

- Sử dụng vi sinh vật trong xử lý phế thải nông nghiệp: việc ứng dụng các nguồn phế phải nông nghiệp để ủ phân hữu cơ ở quy mô hộ gia đình cũng được áp dụng phá phổ biến. Điển hình là việc ứng dụng quy trình ủ vỏ cà phê làm phân bón hữu cơ có sử dụng các chủng vi sinh vật phân hủy xenluloze ở quy mô hộ gia đình trong thời gian qua tại Lâm Đồng đã được đánh giá cao, hiện mô hình đang được nhân rộng trên địa bàn tỉnh. Lâm Đồng là tỉnh có diện tích cà phê lớn thứ 2 trong cả nước, sản lượng cà phê năm 2014 ước đạt 398 ngàn tấn. Với tỷ lệ 4 kg hạt nguyên vỏ - 1 kg nhân thì nguồn vỏ cà phê thải ra môi trường là rất lớn (khoảng 1 triệu tấn). Việc chuyển giao quy trình kỹ thuật ủ vỏ cà phê để tạo phân hữu cơ vi sinh để tiết kiệm chi phí trong sản xuất, đồng thời giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, hạn chế lây lan dịch bệnh,... sẽ mang lại một nguồn lợi không nhỏ cho người dân và cho xã hội trong việc bảo vệ môi trường.

3. Những thuận lợi, khó khăn và định hướng ứng dụng công nghệ sinh học giai đoạn 2016-2020

Tuy đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, song theo đánh giá chung của ngành và theo các nhà chuyên môn, việc ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp và tiềm lực về nghiên cứu công nghệ sinh học ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong giai đoạn hiện nay. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu, chọn tạo giống mới chủ yếu vẫn theo phương pháp lai tạo truyền thống, vì vậy vẫn chưa thực sự tạo được bước đột phá trong sản xuất. Độ đồng đều và chất lượng của sản phẩm chưa cao, chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Chính những hạn chế này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản của tỉnh... Đồng thời, với một số lượng lớn các cơ sở tư nhân tham gia vào công tác nhân nhanh và cung cấp nguồn giống gốc như hiện nay, chất lượng nguồn giống vẫn đang là vấn đề đau đầu của các nhà quản lý. Vì trên thực tế, một ứng dụng quan trọng của công nghệ tế bào là kỹ thuật tách đỉnh sinh trưởng và nuôi cấy meristem để làm sạch virus gây bệnh vẫn chưa được các cơ sở nhân giống quan tâm ứng dụng. Chính vì vậy, nếu không kiểm soát chặt chẽ nguồn cây giống đầu vào thì đây là một nguy cơ tổn thất về kinh tế khi đưa vào sản xuất hàng loạt nguồn cây giống không sạch bệnh, ảnh hưởng lớn đến ngành sản xuất hàng hóa tại địa phương.

Kiểm tra thành phần thiên địch và sâu, bệnh gây hại trên cây rau
Kiểm tra thành phần thiên địch và sâu, bệnh gây hại trên cây rau

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, trên cơ sở các kết quả đã đạt được và những lợi thế phát triển của Lâm Đồng, việc ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp sẽ được tiếp tục triển khai theo tinh thần Quyết định số 14/2008/QĐ-TTg ngày 22/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2020, phát huy các tiềm năng sẵn có, lồng ghép với các chương trình, dự án nông nghiệp trong và ngoài nước để thực hiện một số nội dung trọng tâm như sau:

- Đẩy mạnh công tác ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật trong sản xuất cây giống, nghiên cứu ứng dụng công nghệ nuôi cấy bằng bioreacter nhằm đa dạng hóa các loại sản phẩm, nâng cao chất lượng cây giống cấy mô, hình thành trung tâm sản xuất cây giống cung cấp cho cả nước và xuất khẩu.

- Đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chất thải, phụ phẩm nông nghiệp, trong sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững.

- Mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường công tác hợp tác đầu tư, ưu tiên thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp công nghệ cao ứng dụng công nghệ sinh học để tranh thủ đào tạo cán bộ nòng cốt về ứng dụng công nghệ sinh học.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực sản xuất cây giống nuôi cấy mô; tuyên truyền, khuyến khích bà con nông dân sử dụng các sản phẩm phân bón, thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học trong sản xuất, hướng tới một nền nông nghiệp sạch, bền vững.

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây