Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Tình hình xuất khẩu của tỉnh Lâm Đồng năm 2018
Ấn phẩm KHCN
KHCN & Doanh nghiệp
Sở Công thương Lâm Đồng
2019
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Năm 2018, tình hình xuất khẩu của tỉnh Lâm Đồng tiếp tục đạt mức tăng trưởng khá. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh được 661 triệu USD, đạt 105% so với kế hoạch và tăng 19,8% so với năm 2017. 

Về cơ cấu xuất khẩu hàng hóa: nhóm hàng nông sản chiếm tỷ trọng cao nhất (48%); nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 39%; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 13%. 

Về thị trường xuất khẩu: nhóm hàng nông sản chủ yếu xuất sang Nhật Bản, Đài Loan, các nước thuộc Liên minh châu Âu; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản (chủ yếu là Alumin) được xuất sang Trung Quốc, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Dubai; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp xuất sang Mỹ, các nước khối EU, Nhật Bản, Ấn Độ. 

Về doanh nghiệp xuất khẩu: toàn tỉnh hiện có 150 doanh nghiệp xuất khẩu; trong đó, có 40 doanh nghiệp FDI. 

Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh 

1. Nhóm hàng nông sản 

Năm 2018, nhóm hàng nông sản đạt giá trị xuất khẩu là 317 triệu USD, chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. 

1.1. Cà phê 

Cà phê là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong nhóm hàng nông sản; là mặt hàng đóng góp giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh, chỉ sau Alumin. 

Năm 2018, xuất khẩu cà phê nhân đạt 110 ngàn tấn với tổng giá trị là 183 triệu USD, chiếm 28% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; 59% giá trị xuất khẩu của nhóm hàng nông sản. So với năm 2017, sản lượng cà phê tăng không đáng kể (khoảng 1,7%); đồng thời, do giá cà phê thế giới sụt giảm nên kim ngạch xuất khẩu cà phê không tăng. 

Cà phê có thị trường khá đa dạng, được xuất khẩu sang các châu lục, nhưng tập trung vào 3 thị trường chính là: khu vực Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc), các nước khối EU (Đức, Ý, Anh, Tây Ban Nha) và Mỹ. 

Hiện nay, khoảng 80% sản lượng cà phê của tỉnh được các tập đoàn đa quốc gia như Olam, Louis Dreyfus, Nestlé thu mua; khoảng 20% được chế biến và xuất khẩu trực tiếp bởi một số công ty chế biến cà phê khác, như: Công ty TNHH Thương phẩm Atlantic Việt Nam, Công ty TNHH Mercafe Agri Products, Công ty CP XNK Cà phê Đà Lạt (Vinacafe Đa Lạt), Công ty TNHH Hương Bản, Công ty TNHH Hồ Phượng,… 

Đối với cà phê hòa tan, năm 2018, Công ty TNHH Cà phê Midas (Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Bảo Lộc) đã xuất khẩu sang Myanmar và Hàn Quốc. Tuy nhiên, số lượng xuất khẩu rất nhỏ, khoảng 25 tấn, giá trị đạt 26.000 USD. 

1.2. Chè 

Năm 2018, chè Lâm Đồng xuất khẩu đạt 15 ngàn tấn và thu về 34,5 triệu USD, tăng 22% sản lượng và 23% giá trị so với năm 2017. Kim ngạch xuất khẩu chè chiếm khoảng 5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh và 11% kim ngạch nông sản xuất khẩu. Chè chế biến xuất khẩu gồm: chè Oolong, chè xanh, chè lên men và chè sơ chế (lên men 1 phần). 

Thị trường xuất khẩu chè không đa dạng, chủ yếu là Đài Loan (chè Oolong và chè sơ chế); Afghanistan và Pakistan (chè xanh). Ngoài ra, còn có Nga, Mỹ. 

Doanh nghiệp xuất khẩu chè đang có sự dịch chuyển từ doanh nghiệp khối FDI sang các công ty 100% vốn trong nước, như Công ty TNHH Chè Vina Suzuki, Công ty TNHH King Wan Chen Việt Nam, Công ty TNHH Liên doanh Phú Sơn, Công ty TNHH Chế biến Trà Trân Nam Việt, DNTN Trà và Cà phê Phương Nam, Công ty CP Chè Phong Giang,… 

1.3. Hoa 

Hoa là một trong 33 mặt hàng có sự tăng trưởng lớn về số lượng và giá trị, tăng gần 12% so với năm 2017; là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao của tỉnh, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản và 7% tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Năm 2018, tỉnh Lâm Đồng xuất khẩu 325 triệu cành hoa, với giá trị đạt 48,8 triệu USD.

Hoa xuất khẩu gồm hoa cắt cành, hoa chậu như hồng, cẩm chướng, cúc, lily, cát tường, lan Hồ điệp, Vũ nữ và lá trang trí. 

Thị trường xuất khẩu khá đa dạng, đứng đầu là các nước Đông Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc), tiếp theo là châu Úc (Australia), châu Âu (Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ, Nga) và khu vực ASEAN (Singapore, Thái Lan, Indonesia). 

Doanh nghiệp xuất khẩu hoa lớn chủ yếu là các doanh nghiệp FDI, như: Công ty TNHH Dalat Hasfarm, Công ty TNHH Apollo, Công ty TNHH Hoa Mặt trời, Công ty TNHH Hoa Trường Xuân. 

1.4. Rau 

Năm 2018, rau các loại xuất khẩu đạt 11 ngàn tấn (tăng 2,4% so với năm 2017), thu về 27,5 triệu USD, chiếm 4% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. 

Rau xuất khẩu chủ yếu là khoai lang, bí đỏ, ớt chuông, bắp ngọt, cà rốt, khoai từ, khoai mỡ, rau bó xôi, bắp cải, hành poireau,… 

Thị trường xuất khẩu chính là Đông Á (Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc), EU (Anh, Hà Lan, Pháp, Bỉ), Mỹ, ASEAN (Singapore, Malaysia). 

Tình hình xuất khẩu rau - củ - quả các loại năm 2018 không có nhiều biến động so với các năm trước do Lâm Đồng không có nhiều doanh nghiệp chế biến rau - củ - quả; đồng thời, quy mô của các công ty cũng không lớn. Các đơn vị chế biến rau - củ - quả cấp đông hiện có gồm Công ty TNHH Thực phẩm Đà Lạt - Nhật Bản, Công ty CP Chế biến Thực phẩm Đà Lạt Tự Nhiên, Công ty TNHH An Vạn Thịnh, Công ty TNHH Thụy Hồng Quốc tế, Công ty CP Nông Sản Thực phẩm Lâm Đồng, Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Hàng ngày, Công ty CP Viên Sơn, Công ty TNHH Thực phẩm Asuzac Đà Lạt, Công ty TNHH Cung ứng Nông nghiệp Lâm Đồng, Công ty TNHH Rau Nhà Xanh. 

2. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản 

Trong năm 2018, nhóm hàng này với 2 mặt hàng chính là Alumin và Hydroxit nhôm đã có sự tăng trưởng mạnh, đạt 650 ngàn tấn và 261 triệu USD, tăng 16,6% sản lượng và 50,5% giá trị; chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. 

Xuất khẩu Alumin và Hydroxit nhôm do Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng thực hiện. Thị trường xuất khẩu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Dubai, Hồng Kông, Thụy Sỹ, Thái Lan. 

3. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp 

Kim ngạch xuất khẩu của nhóm công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 13% tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh, gồm các mặt hàng tơ, lụa và sản phẩm dệt may, trong năm 2018, đạt 83 triệu USD. 

Nếu mặt hàng tơ và lụa có sự tăng trưởng mạnh thì sản phẩm dệt may trong xu hướng giảm (giảm gần 16% giá trị so với năm 2017 và đây là sản phẩm xuất khẩu chủ lực có sự suy giảm nhiều nhất trong năm 2018). 

Thị trường chính của các sản phẩm dệt may Lâm Đồng là các nước châu Âu (Anh, Đức, Cộng hòa Sec); châu Mỹ (Mỹ, Canada); Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản); châu Úc (New Zealand). Thị trường xuất khẩu lụa là Nhật Bản; tơ chủ yếu xuất sang Ấn Độ. 

Xuất khẩu sản phẩm dệt may chủ yếu do các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện như: Công ty TNHH Đà Lạt Apex, Công ty TNHH Merkava Việt Nam, Công ty TNHH May Royal Family, Công ty TNHH Young Shin Vina,… Riêng lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu tơ, lụa hầu như do các công ty trong nước thực hiện như: Công ty TNHH Xe tơ - Dệt lụa Hà Bảo, Công ty TNHH Dệt tơ tằm Việt Silk, Công ty Cổ phần Tơ Lụa Đông Lâm,… 

Đánh giá 

Sự tăng trưởng xuất khẩu năm 2018 được đánh dấu bởi 3 sản phẩm chủ lực là Alumin, chè và hoa tươi các loại. Ngược lại, một số mặt hàng như sản phẩm dệt may và đặc biệt là hạt điều lại giảm sâu về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngoài ra, giá xuất khẩu cà phê có nhiều biến động trong năm vừa qua, nhất là vào những tháng cuối năm nên xuất khẩu cà phê không tăng so với năm 2017. Tuy nhiên, cà phê và Alumin vẫn là 2 mặt hàng có đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh; trong đó, Alumin là động lực tăng trưởng chính. 

Xuất khẩu chủ yếu vẫn tập trung ở các thị trường truyền thống, chưa phát triển thêm được nhiều thị trường mới. Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu cũng tăng không đáng kể.

Điểm yếu mấu chốt của xuất khẩu Lâm Đồng vẫn là: hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều chưa xây dựng được thương hiệu riêng; các mặt hàng chủ yếu là xuất khẩu thô; năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh còn yếu, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân; quy mô doanh nghiệp nhỏ, hạn chế về tài chính nên khó mở rộng thị trường xuất khẩu. 

Kiến nghị 

- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu uy tín được Bộ Công thương công nhận, khó khăn lớn nhất hiện nay là vốn, do đó, cần có các chính sách ưu đãi trong việc vay tín dụng. 

- Trong năm 2018, Bộ Công thương đã có nhiều chương trình hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu như: xúc tiến thương mại ở nước ngoài, phát triển thương mại điện tử, hỗ trợ thiết kế phát triển sản phẩm,… cùng sự hỗ trợ và kết nối từ các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Các chương trình này đang ngày càng có hiệu quả và nhận được sự quan tâm của doanh nghiệp trong tỉnh. Do đó, cần tiếp tục duy trì, phát triển và truyền thông các chương trình này nhiều hơn nữa. Các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đưa các nhà nhập khẩu và phân phối ở nước ngoài về nước để kết nối giao thương cũng như tìm hiểu cơ hội hợp tác liên doanh. 

- Do quy mô và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong tỉnh nhỏ nên việc mở rộng thị trường rất khó. Việc liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực sản xuất cũng như phát triển thị trường nước ngoài. Do đó, cần chú trọng thu hút các doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp trong tỉnh bên cạnh việc tập trung thu hút đầu tư các dự án mới. 

- Xây dựng thương hiệu địa phương giúp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, do đó việc xây dựng thành công thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” góp phần hỗ trợ hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản Lâm Đồng. 

Số 01/2019

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 21/2020 - 23/06/2020
Số 21/2020 Xem thêm
Số 20/2020 - 23/06/2020
Số 19/2020 - 08/06/2020
Số 18/2020 - 08/06/2020
Số 17/2020 - 02/06/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.892.751
  • Đang online: 155
  • Trong tuần: 8.830
  • Trong tháng: 8.830
  • Trong năm: 1.007.722