Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Hành vi chấp nhận giao dịch điện tử của cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng
Ấn phẩm KHCN
KHCN & Doanh nghiệp
Hồ Quang Thanh - Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lâm Đồng
2019
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng
 Nghiên cứu này tham chiếu theo Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT) của Venkatesh, Morris, Davis & Davis (2003) để xây dựng và khẳng định các thành phần, yếu tố tác động đến hành vi chấp nhận giao dịch điện tử của cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng (Acceptance of E-Commerce Transfer of Lam Dong Administrative Agencies: Lamdong E-Com) và được kiểm định bằng mô hình phương trình cấu trúc (Structural Equation Modelling - SEM). Kết quả phân tích dữ liệu từ 207 cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính của tỉnh cho thấy, các thành phần gồm Hiệu suất mong đợi; Nỗ lực mong đợi; Ảnh hưởng xã hội và Điều kiện thuận lợi có quan hệ tuyến tính, gián tiếp, trực tiếp và tích cực đến hành vi chấp nhận giao dịch điện tử. Mô hình nghiên cứu giải thích được khoảng 73% hành vi chấp nhận giao dịch điện tử và từ kết quả này đưa ra khuyến nghị về giải pháp.

Giới thiệu

Giao dịch điện tử cung cấp phương pháp thực hiện các thủ tục hành chính mới, sử dụng công nghệ thông tin, Internet như một công cụ đắc lực để tăng tốc độ thực hiện đạt hiệu quả, hiệu suất cao (Kane, Fichman, Gallaugher, & Glaser, 2009). Chính phủ các nước đang cho thấy sự ưu tiên mạnh mẽ trong việc cung cấp các dịch vụ công thông qua Internet, đặc biệt, đây là công cụ hữu hiệu trong quản lý hành chính nhằm giảm chi phí và thời gian giao dịch giữa chính quyền với chính quyền, nhân viên, người dân và tổ chức (Ebbers, Pieterson & Noordman, 2008).

Tại Lâm Đồng, ứng dụng công nghệ thông tin, Internet trong giao dịch/tương tác giữa các cơ quan hành chính với nhau (Government to Government: G2G); cơ quan hành chính với công chức, viên chức (Government to Employees: G2E) đã được quan tâm đầu tư, triển khai thực hiện trong những năm qua nhằm hiện đại hóa quản trị nền hành chính, điều hành bộ máy hành chính công hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; cung cấp dịch vụ công tốt hơn trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông với công cụ giao thức Văn phòng điện tử (eOffice); năm 2018, được nâng lên cấp độ tỉnh điện tử, đồng bộ theo Mô hình kiến trúc Chính phủ điện tử/tỉnh điện tử (Bkav eGov) gồm 5 tầng chính, với triết lý lấy người sử dụng làm trung tâm. Kiến trúc 5 tầng của Bkav eGov bắt đầu từ hạ tầng truyền thông, điều hành tác nghiệp, xử lý văn bản trong nội bộ các cơ quan, sau đó kết nối liên thông liên văn phòng tạo nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ các cơ quan, đơn vị, tiếp đến là cung cấp các dịch vụ công theo cơ chế một cửa và cuối cùng cung cấp giao diện tương tác với người dân thông qua Cổng thông tin điện tử.

Do đó, mục đích của nghiên cứu là tìm hiểu lý do tại sao cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng chấp nhận giao dịch điện tử; trình bày gợi ý chính sách, khuyến nghị giải pháp từ kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao chỉ số giao dịch điện tử của cơ quan hành chính nhà nước ở mức độ III và IV đạt 90% vào năm 2020; góp phần đáp ứng yêu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau (Chính phủ, 2011).

Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ

Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được Venkatesh, Morris, Davis & Davis (2003) đúc kết, tích hợp các yếu tố quan trọng từ 8 lý thuyết nổi bật trước đó: 

(1) Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) (Ajzen & Fishbein, 1980); 

(2) Lý thuyết dự định hành vi (Theory of Planned Behavior - TPB) (Ajzen, 1985); 

(3) Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) (Davis & ctg, 1989);

(4) Mô hình PC - Sử dụng máy tính cá nhân (Model of PC Utilization - MPCU) (Thompson & ctg, 1991); 

(5) Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Innovation Diffusion Theory - IDT) (Rogers, 1995); 

(6) Kết hợp TAM và TPB (Combined TAM and TPB: C-TAM-TPB) (Taylor & Todd, 1995a); 

(7) Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT) (Compeau và Higgins, 1995b);

(8) Mô hình động lực (Motivational Model - MM) (Vallerand, 1997).

Lý thuyết UTAUT nhằm giải thích mức độ chấp nhận việc sử dụng công nghệ thông tin; đánh giá việc người dùng có thể chấp nhận các công nghệ mới và để tương tác với công nghệ thông tin hay không; giúp nhà quản lý, người ra quyết định đánh giá sự thành công của việc đưa công nghệ áp dụng vào tổ chức và thúc đẩy người dùng chấp nhận một hệ thống công nghệ mới.

Giả thuyết nghiên cứu

Lý thuyết UTAUT, gồm 4 khái niệm chính: Hiệu suất mong đợi (PE), Nỗ lực mong đợi (EE), Ảnh hưởng xã hội (SI) và Điều kiện thuận lợi (FC); đây là các biến độc lập có ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc: Ý định hành vi (BI) và Chấp nhận/Hành vi sử dụng (UB) (Hình 1). Giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm sử dụng hệ thống đã gián tiếp ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc thông qua 4 khái niệm chính (Venkatesh, Morris, Davis & Davis, 2003)

- Hiệu suất mong đợi: mức độ mà cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ đạt được lợi ích về hiệu suất công việc;

- Nỗ lực mong đợi: mức độ dễ dàng liên quan đến việc sử dụng hệ thống;

- Ảnh hưởng xã hội: mức độ mà cá nhân nhận thức được rằng những người quan trọng khác tin rằng họ nên sử dụng hệ thống mới;

- Tạo điều kiện thuận lợi: mức độ mà cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng, tổ chức và kỹ thuật sẵn có để hỗ trợ việc sử dụng hệ thống.

Nhiều nghiên cứu về nhận thức, hành vi chấp nhận sử dụng dịch vụ chính phủ điện tử ở các quốc gia như: nghiên cứu của Colesca và Liliana (2008); Belanche, Casaló, và Flavián (2012); Dahi và Ezziane (2015); Carter, Weerakkody, Phillips và Dwivedi (2016) cùng nhiều nghiên cứu khác. Ở Việt Nam, một số nghiên cứu của Nguyễn và Cao (2011), Hà và Nguyễn (2016), Hồ (2018) về xu hướng sử dụng ngân hàng trực tuyến; hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng; Mức độ sẵn sàng ứng dụng dịch vụ công trực tuyến của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng;...

Do đó, trên cơ sở lý thuyết UTAUT cũng như nhiều nghiên cứu trước, các giả thuyết nghiên cứu giải thích lý do về hành vi chấp nhận giao dịch điện tử của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng được đề xuất và trình bày tại Hình 1 như sau:

Mô hình nghiên cứu gồm 6 cấu trúc với 4 cấu trúc/biến nguyên nhân: Hiệu suất mong đợi (PE), Nỗ lực mong đợi (EE), Ảnh hưởng xã hội (SI) và Điều kiện thuận lợi; 2 cấu trúc/biến kiểm soát với 1 biến trung gian là Ý định hành vi (BI) và biến mục tiêu là Hành vi sử dụng (UB). Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết được đề xuất (Hình 1), các giả thuyết từ H1a, H1b, H1c; H2 và H3 sẽ được kiểm định bằng SEM.

Khảo sát dữ liệu

Tham khảo thành phần, khái niệm, thang đo của lý thuyết UTAUT và các nghiên cứu trước để xây dựng bảng câu hỏi khảo sát và theo chuẩn lấy mẫu quốc tế hiện đại nhằm bảo đảm tính đại diện; tiến hành khảo sát ngẫu nhiên, xác suất theo quy mô cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính tỉnh. Nội dung khảo sát gồm 6 thành phần với 21 câu hỏi, sử dụng thang đo dạng Likert, 7 điểm từ 1: rất không đồng ý tới 7: rất đồng ý (Phụ lục).

Phương pháp phân tích và kiểm định gồm: sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) để đánh giá sơ bộ tính đơn hướng, giá trị hội tụ, giá trị phân biệt cũng như độ tin cậy của các thang đo. Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA) được sử dụng để kiểm định tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt giữa các khái niệm nghiên cứu. Ngoài ra, cũng sử dụng phương pháp phân tích SEM để kiểm định mô hình lý thuyết về các mối quan hệ giữa các thành phần, khái niệm, phương pháp ước lượng xu hướng cực đại ML (Maximum Likelihood) được sử dụng để ước lượng các tham số trong mô hình lý thuyết (Hình 1) (Muthen & Kaplan, 1985).

Kết quả và phân tích

Kiểm định độ tin cậy của mẫu nghiên cứu, với các chỉ số tới hạn CR < 2,00 (p > 0,05), cho biết: mẫu đáng tin cậy, đảm bảo tính đại diện và do đó, mô hình ước lượng ML được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Jöreskog & Sörbom, 2001).

Kết quả các thang đo với 100% có phương sai giải thích (R²smc) ≥ 0,51, nghĩa là các trọng số tác động (λC) ≥ 0,71 là lý tưởng (Hair, 2010; Kline, 2011), chứng minh được rằng hầu hết người được phỏng vấn hiểu được các câu hỏi và đưa ra đánh giá rõ ràng, hợp lý khi trả lời; các chỉ số thống kê cụ thể, phù hợp và có ý nghĩa (Hình 2).

Kết quả bằng chứng thực nghiệm về các mối quan hệ của các yếu tố: PE, EE, SI, FC, và BI đã tác động đến biến mục tiêu Hành vi chấp nhận sử dụng (UB), đã được phát hiện và khẳng định trong nghiên cứu này (Hình 2).

Như vậy, các nội dung khảo sát đều đạt độ tin cậy, độ giá trị về khái niệm và nội dung. Đặc biệt, kết quả phân tích cho thấy các tham số về mối quan hệ giữa biến tiềm ẩn với biến quan sát và giữa các biến tiềm ẩn với nhau trong mô hình lý thuyết là rõ ràng, hợp lý, có ý nghĩa thống kê và giá trị thực tiễn (Hình 2):

(1) Các thành phần PE, EE, SI và FC gián tiếp, trực tiếp tác động và giải thích được 73% UB với trọng số tác động lần lượt là λC(H1a): PE --> BI = 0,33, λC(H1b): EE --> BI = 0,32, λC(H1c): SI --> BI = 0,27, λC(H2): FC --> UB = 0,26, λC: PE --> UB = 0,42; trong đó, PE, EE, SI giải thích được 65% BI; đồng thời, BI cùng với PE và FC giải thích được 73% UB; đây là kết quả tốt (Venkatesh & ctg, 2003).

(2) Điểm trung bình về mức độ đồng ý của 6 thành phần khá cao: 5,5/7 (T-Test với Test Value = 5,5);

(3) Kết quả nghiên cứu đã khẳng định giá trị lý thuyết và giá trị thực tiễn của mô hình hành vi chấp nhận giao dịch điện tử, nghĩa là mô hình phù hợp với thực tế.

Kết luận và khuyến nghị

Khẳng định cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng chấp nhận và giao dịch điện tử theo giao thức Bkav eGov (73%) và cho biết họ có khả năng tương tác với nó khá tốt.

Đóng góp chính của nghiên cứu

Về khoa học

Trên cơ sở UTAUT đã xây dựng và kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần PE, EE, SI, FC, BI, UB và giải thích được lý do về hành vi chấp nhận giao dịch điện tử của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính tỉnh Lâm Đồng (Hình 2).

Về thực tiễn

• Có cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng một hệ thống giải pháp nhằm tăng cường các thành phần, yếu tố tác động đến hành vi sử dụng tự giác, dẫn đến thói quen sử dụng một cách bình thường/mặc định.

• Kết quả chỉ ra rằng, nếu tăng chất lượng nội dung của các thành phần, yếu tố trên sẽ từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm, thói quen giao dịch điện tử trong xử lý công việc rất hiệu quả.

Khuyến nghị về giải pháp

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khuyến nghị hệ thống giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao mức độ chấp nhận giao dịch điện tử của cơ quan hành chính như sau:

• Đáp ứng tốt các tiêu chí về hệ thống giao dịch điện tử (PE, EE, SI, FC): thiết kế trang mạng giao dịch trực tuyến (Bkav eGov); độ tin cậy; sự hồi đáp, trả lời của cơ quan chức năng; an ninh mạng; chất lượng internet; tương tác giữa người sử dụng; tính thuận tiện khi sử dụng; đặc điểm riêng có; thỏa mãn người sử dụng và tính hữu ích cao.

• Luôn cập nhật mới, đầy đủ thông tin về các quy định; hướng dẫn quy trình, thủ tục đơn giản; cải thiện tính năng sử dụng, thao tác đơn giản, dễ thực hiện (EE).

• Nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ cơ quan quản trị hệ thống trực tuyến của tỉnh: sẵn sàng đáp ứng và giải quyết tốt yêu cầu, tạo sự tin tưởng cho người sử dụng; trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho đội ngũ thực hiện dịch vụ công trực tuyến (FC).

 • Định kỳ kiểm tra, đánh giá Bkav eGov để cải thiện, nâng cấp kịp thời, chú trọng vào các thành phần EE và SI, đảm bảo dễ thao tác/vận hành, sử dụng của Bkav eGov; tăng cường, khuyến khích sử dụng giao dịch điện tử, từ đó tạo sự ảnh hưởng đến người dùng; đồng thời, tạo sự tươi trẻ, mới lạ, hấp dẫn, thân thiện và thu hút.

• Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng cứng và mềm về công nghệ thông tin; dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, Internet để cung cấp và ứng dụng các dịch vụ công trực tuyến.

• Đặc biệt, để nâng cao nhận thức người sử dụng, cần chỉ ra những lợi ích của nó bằng cách nâng cao giá trị sử dụng và tính hữu ích (PE); nhân tố này tác động kép đến BI (λC = 0,33) và UB (λC = 0,42), nghĩa là PE có tác động rất mạnh đến hành vi sử dụng (UB). 

Phụ lục. Thang đo hành vi chấp nhận giao dịch điện tử

Thang đo

Ký hiệu

 

Thang đo

Ký hiệu

Hiệu suất mong đợi (Performance Expectancy)

PE

Được cơ quan chuyên môn hỗ trợ trong việc sử dụng Bkav eGov.

si4

Tôi thấy khi sử dụng Bkav eGov thì hữu ích trong công việc của tôi.

pe1

Điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions)

FC

Sử dụng Bkav eGov cho phép tôi thực hiện các tác vụ nhanh hơn.

pe2

Tôi có đủ trang thiết bị cần thiết để sử dụng Bkav eGov.

fc1

Sử dụng Bkav eGov làm tăng năng suất làm việc của tôi.

pe3

Tôi có kiến thức cần thiết để sử dụng Bkav eGov.

fc2

Khi sử dụng Bkav eGov, tôi sẽ tăng cơ hội để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

pe4

Với các nguồn lực, cơ hội và kiến thức cần thiết để sử dụng Bkav eGov, tôi sẽ dễ dàng sử dụng chúng.

fc3

Nỗ lực mong đợi (Effort Expectancy)

EE

Tôi có đủ kinh nghiệm Internet để sử dụng Bkav eGov.

fc4

Sự tương tác với Bkav eGov thì rõ ràng và dễ hiểu

ee1

Ý định hành vi (Behavioral Intention)

BI

Thật dễ dàng để tôi thành thạo hơn khi sử dụng Bkav eGov.

ee2

Tôi sẽ sử dụng Bkav eGov thường xuyên như hiện tại.

bi1

Tôi thấy Bkav eGov dễ sử dụng.

ee3

Sẵn sàng sử dụng Bkav eGov.

bi2

Học cách vận hành Bkav eGov rất dễ dàng đối với tôi.

ee4

Khuyên những người khác cùng sử dụng Bkav eGov.

bi3

Ảnh hưởng xã hội (Social Influence)

SI

Hành vi sử dụng (Use Behavior)

UB

Quy định phải sử dụng Bkav eGov.

si1

Tôi sử dụng Bkav eGov khi giao dịch trong công việc.

ub1

Những người ảnh hưởng đến công việc của tôi nghĩ rằng tôi nên sử dụng Bkav eGov.

si2

Tôi thường xuyên kiểm tra việc sử dụng Bkav eGov.

ub2

Những người quan trọng với tôi nghĩ rằng tôi nên sử dụng Bkav eGov.

si3

 


Số 01/2019

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 21/2020 - 23/06/2020
Số 21/2020 Xem thêm
Số 20/2020 - 23/06/2020
Số 19/2020 - 08/06/2020
Số 18/2020 - 08/06/2020
Số 17/2020 - 02/06/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.892.746
  • Đang online: 150
  • Trong tuần: 8.825
  • Trong tháng: 8.825
  • Trong năm: 1.007.717