Tư liệu
Đánh giá ảnh hưởng của giá thể từ vỏ cà phê và bã mía đến sinh trưởng và năng suất của cà chua và súp lơ xanh
Tư liệu khảo cứu
Khoa học công nghệ
Nguyễn Thái Huy, Nguyễn Mai Hương
2013
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Đặt vấn đề

Những năm gần đây, nhiều người đã tận dụng các không gian sống trong nhà để trồng rau sạch trên nhiều loại giá thể hữu cơ như đất sạch làm từ mụn dừa (Võ Thanh Liêm, 2001), giá thể GT 05 (Trung tâm Nghiên cứu Phân bón và Dinh dưỡng cây trồng - Viện Thổ nhưỡng Nông hóa). GT 05 là giá thể sinh học không đất, hàm lượng chất hữu cơ 44% và các chất dinh dưỡng cao: 1,2% đạm (N); 0,8% lân (P2O5); 0,7% kali (K2O), cùng các nguyên tố trung, vi lượng cần thiết cho cây trồng.

Theo kết quả phân tích của Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, vỏ cà phê có hàm lượng N 1,84%, P2O5 0,15%, K2O 1,11%; bã mía có hàm lượng N 0,44%, P2O5 0,15%, K2O 0,19%. Nguồn phế phẩm này có thể sử dụng để sản xuất giá thể trồng cây.

Năm 2009, Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng đã nghiên cứu sản xuất, đánh giá ảnh hưởng của giá thể từ vỏ cà phê và bã mía đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cà chua và súp lơ xanh.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

1. Vật liệu nghiên cứu

+ Vỏ cà phê khô; Bã mía; Than bùn; Caolin.

+ Chế phẩm vi sinh gồm các chủng: Mucor sp1, Penicillum sp2, Penicillum sp3, Apergillus sp1, Apergillus sp3, Apergillus sp7, Bacillus sp3, Pseudomonas sp6, Streptomyces sp3, Streptomyces sp4, Streptomyces sp5, Saccharomyces sp1, Saccharomyces sp2 do Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng sản xuất.

+ Cà chua (Lycopersicon esculentum L.) giống Anna; Súp lơ xanh (Brassica oleracea L. var. italica Plenck) giống Green magic F1.

2. Phương pháp nghiên cứu

Vỏ cà phê, bã mía hoai mục được xử lý bằng phương pháp ủ bán hảo khí. Tưới nước lên vỏ cà phê, bã mía để đạt độ ẩm 60%. Trộn 1 tấn vỏ cà phê, bã mía với 50 kg lân, 7 kg vôi và lượng urê vừa đủ để tỷ lệ C/N nguyên liệu là 1:30.

Tưới đều dung dịch chế phẩm vi sinh đã hoạt hóa (2 kg/100 lít nước) lên đống ủ, dùng bạt ni lon đậy kín. Tiến hành đảo trộn đống ủ sau 20, 40, 60 và 80 ngày. Sau 3-3,5 tháng (đối với vỏ cà phê) và 4-5 tháng (đối với bã mía), có thể sử dụng phối trộn với một số nguyên liệu làm giá thể trồng rau.

+ Bố trí thí nghiệm theo các công thức sau:

CT 1 (đối chứng): 70% than bùn + 30% phân chuồng hoai

CT 2: 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 30% vỏ cà phê hoai mục

CT 3: 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 30% bã mía hoai mục

CT 4: 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 15% vỏ cà phê hoai mục: 15% bã mía hoai mục

CT 5: 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 12% vỏ cà phê hoai mục: 18% bã mía hoai mục

CT 6: 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 9% vỏ cà phê hoai mục: 21% bã mía hoai mục.

+ Giai đoạn cây trong vườn ươm: gieo cà chua và súp lơ xanh trong khay ươm (dài 50 cm, rộng 28 cm; 84 lỗ), mỗi công thức 2 khay/1 lần lặp lại.

+ Giai đoạn cây lớn: trồng cà chua và súp lơ xanh trong chậu nhựa đen DS3 (kích thước 20 x 16 x 13 cm), 5 kg giá thể/chậu, mỗi công thức 30 cây/1 lần lặp lại.

Kết quả và thảo luận

1. Tính chất lý, hóa của giá thể

Kết quả phân tích giá thể theo các công thức phối trộn cho thấy:

Bảng 1. Kết quả phân tích các tính chất lý, hóa của giá thể

+ Tỷ trọng của các giá thể chênh lệch không lớn, biến động từ 0,89 (CT 5 và 6) đến 0,91 (CT 1). CT 1 có tỷ trọng cao nhất do chứa 70% than bùn.

+ Khả năng hấp thụ nước tối đa từ 35,05-38,15%. Khả năng hút nước của CT 1 (38,15%) và CT 2 (37,48%) là lớn nhất, nhưng khả năng giữ nước không tốt (lượng nước bay hơi sau 3 ngày là 8,49%).

+ pH biến động từ 7-7,3, phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển của các loại rau. pH cao nhất ở CT 5 và thấp nhất ở CT 1.

+ Hàm lượng N tổng số biến động từ 1,93-3,71%, liên quan đến tỷ lệ phối trộn của vỏ cà phê và bã mía hoai mục. Ở CT 1 không sử dụng vỏ cà phê và bã mía hoai mục, hàm lượng N thấp nhất (1,93%). Ở CT 2, hàm lượng vỏ cà phê hoai mục được sử dụng là 30%, hàm lượng N đạt lớn nhất (3,71%).

+ Lân tổng số biến động từ 0,8-1,1%, cao nhất ở CT 6, thấp nhất ở CT 2 và CT 3.

+ Kali tổng số biến động từ 0,4-0,8%, cao nhất ở CT 6, thấp nhất ở CT 1.

+ Thành phần đa lượng trong các công thức giá thể phối trộn khá cao, đều ≥ hàm lượng các nguyên tố đa lượng trong giá thể hữu cơ GT 05 (trừ hàm lượng Kali ở CT 1, 2, 3 và 4).

2. Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cà chua (Lycopersicon esculentum L.) giống Anna

Giai đoạn cây trong vườn ươm: kết quả theo dõi sinh trưởng, phát triển cà chua sau 22 ngày gieo trồng cho thấy:

+ Số lá thật: sự chênh lệch số lá thật ở các công thức rất có ý nghĩa. Ở CT 6 và CT 2, số lá thật cao hơn các công thức còn lại. Số lá thật nhiều giúp cây trồng tăng khả năng quang hợp.

+Chiều cao cây: dao động từ 15,9-19,17 cm. Ở CT 2 và CT 4, chiều cao cây con khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng.

+ Đường kính thân: ở CT 2, CT 4 và CT 6 lần lượt là 3,3 cm; 3,03 cm và 2,9 cm, chênh lệch có ý nghĩa so với đối chứng.

Đối chiếu với cà chua đạt tiêu chuẩn xuất vườn (có 4-6 lá thật, chiều cao cây 10-15 cm), cà chua con trồng trên các giá thể từ vỏ cà phê và bã mía có thể đưa ra sản xuất. Giá thể phối trộn theo CT 2 và CT 4 đáp ứng tốt nhất cho sự sinh trưởng của cây con.

Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất

Cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn được trồng trong chậu nhựa. Cây ra nụ sau 10-12 ngày, nở hoa sau 14-16 ngày.

Năng suất cà chua đạt cao nhất ở CT 2 (159,3 kg/ô thí nghiệm) và CT 4 (143 kg/ô thí nghiệm).

Ở giai đoạn cây lớn, giá thể phối trộn theo CT 2 và CT 4 phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển của cà chua nhất.

Bảng 2. Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của cà chua con sau 22 ngày trồng

Bảng 3. Ảnh hưởng của giá thể đến các yếu tố tạo thành năng suất cà chua

3. Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của súp lơ xanh (Brassica oleracea L. var. italica Plenck) giống Green magic F1

Giai đoạn cây trong vườn ươm: kết quả theo dõi sinh trưởng, phát triển súp lơ xanh sau 30 ngày gieo trồng cho thấy:

+ Chiều cao cây: đạt cao nhất ở CT 2, CT 4, CT 5 và CT 6 (lần lượt là 14,07 cm; 13,50 cm; 13,94 cm và 13,67 cm), sự khác biệt này có ý nghĩa so với đối chứng (11,53 cm).

+ Số lá thật: dao động từ 5,1-5,2 lá/cây, cao hơn so với đối chứng (4,3 lá).

Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất

+ Đường kính hoa: dao động từ 13,17-14,61 cm.

+ Trọng lượng: trung bình từ 386-457 g/hoa.

Ở CT 2 và 4, đường kính hoa và năng suất cao hơn so với đối chứng (lần lượt là 18,39%, 16,58%).

Bảng 4. Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của súp lơ xanh sau 30 ngày trồng

Bảng 5. Ảnh hưởng của giá thể đến các yếu tố cấu thành năng suất của súp lơ xanh

Kết luận

- Giá thể vỏ cà phê và bã mía được xử lý bằng phương pháp ủ bán hảo khí có sử dụng chế phẩm vi sinh vật phân hủy cellulose phối trộn với than bùn, phân chuồng, caolin theo các tỷ lệ khác nhau có khả năng hút và giữ nước tốt, pH phù hợp với đa số cây trồng, hàm lượng các nguyên tố đa lượng khá cao.

- Ở giai đoạn cây con, các chỉ tiêu sinh trưởng của cà chua và súp lơ xanh ở các công thức 2, 3, 4, 5 và 6 đều cho kết quả tốt hơn so với đối chứng.

- Ở giai đoạn cây lớn, cà chua và súp lơ xanh ở công thức 2 và 4 đều cho năng suất cao hơn đối chứng.

Đề nghị

Có thể sử dụng giá thể phối trộn theo tỷ lệ 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 30% vỏ cà phê hoai mục (CT 2) và 30% than bùn: 30% phân chuồng hoai: 10% cao lanh: 15% vỏ cà phê hoai mục: 15% bã mía hoai mục (CT 4) để trồng cà chua, súp lơ xanh ở giai đoạn vườn ươm và sản xuất

 

Nguyễn Thái Huy, Nguyễn Mai Hương

Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông Lâm nghiệp Lâm Đồng

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây