Tư liệu
Năng suất, chất lượng trong kỷ nguyên tri thức
Tư liệu khảo cứu
Khoa học công nghệ
NGUYỄN HỮU THIỆN
2002
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

 

Nền kinh tế thế giới và khu vực đang chứng kiến những thay đổi kỳ diệu về mọi mặt. Kinh tế tri thức đặt ra không ít thách thức cho mỗi doanh nghiệp - tế bào quan trọng của nền kinh tế. Trong bối cảnh này, ý nghĩa và nội dung của năng suất chất lượng cũng thay đổi một cách đáng kể so với một phần tư thế kỷ trước đó. Giờ đây, năng suất không còn là sản xuất nhiều hơn khi sử dụng những nguồn lực như nhau hay sản xuất cùng sản phẩm nhưng sử dụng ít nguồn lực hơn mà điều thiết yếu là sản xuất ra đúng sản phẩm với giá cả cạnh tranh để luôn đảm bảo sự thỏa mãn khách hàng ở mức cao nhất cũng như để cải thiện hơn nữa chất lượng cuộc sống.

Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về thương mại, đầu tư, công nghệ và thông tin giữa các quốc gia trên thế giới là một đặc trưng của kỷ nguyên mới. Ðiều này cũng thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong lực lượng lao động. Người ta dự tính rằng việc giảm tổng chi phí giao thương và truyền thông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ giữa các nền kinh tế trên thế giới. Hiện nay chúng ta có thể thấy rõ rằng toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế đã làm tăng mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu, tăng cường hiệu quả kinh tế và cải tiến năng suất các ngành công nghiệp trên toàn thế giới. Do đó, sự quản lý hiệu quả sẽ là điều kiện tiên quyết cho sự phân bổ lại một cách hợp lý các lợi ích mà toàn cầu hóa có thể đem lại. Việc quản lý có hiệu quả và hiệu lực đóng vai trò ngang với việc cải cách thương mại, các chiến lược xóa đói, giảm nghèo và các chương trình bảo đảm sức khỏe người lao động. Rõ ràng là tại các nước đang phát triển những tiến bộ trong lĩnh vực quản lý đã không theo kịp với những cải cách kinh tế. Quá trình hội nhập sẽ thay đổi luật chơi của doanh nghiệp tại những nước này. Hơn bao giờ hết, trước làn sóng cải cách kinh tế và tự do hóa thương mại, việc áp dụng các kỹ thuật, tiêu chí và chuẩn mực quản lý hiện đại và việc phổ biến các hoạt động đào tạo cần thiết là điều không thể tránh khỏi.

Vai trò của năng suất

Mọi lĩnh vực hoạt động và các thành phần kinh tế đều có thể đạt được những thành quả nhờ sự tăng trưởng năng suất cao. Mỗi quốc gia cần tạo ra và duy trì các nhân tố và các quá trình cần thiết cho việc cải tiến năng suất với mục tiêu cuối vùng là hướng nền kinh tế đi vào quỹ đạo tăng trưởng mạnh mẽ và ổn định. Ðây chính là điều mà chúng ta có thể học hỏi từ kinh nghiệm phát triển kinh tế của nhiều quốc gia đã thành công trong những năm gần đây.

Các yêu cầu tối thiểu cần thiết để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế liên quan đến sự hợp lý hóa các quá trình, bao gồm đổi mới, áp dụng công nghệ thông tin và cải tiến phương pháp quản lý. Việc áp dụng các kỹ thuật quản lý tiên tiến như tái cơ cấu quá trình kinh doanh (Business Process Reengineering), quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management), duy trì năng suất tổng hợp (Total Productive Maintenance), quản lý chuỗi cung cấp (Supply Chain Management) có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức khi phải đương đầu với những thách thức của quá trình cạnh tranh toàn cầu. Vì vậy các tổ chức cần phải được trang bị những kỹ thuật này để tái cơ cấu, đào tạo lại và phân bố lại lực lượng lao động, thúc đẩy quá trình đề ra quyết định và cải tiến hiệu quả hoạt động.

Hơn nữa, việc tăng chi phí năng lượng dẫn đến tình trạng tăng giá dầu hiện nay buộc một số tổ chức phải sử dụng đến các phương pháp tiết kiệm năng lượng ở mọi lĩnh vực khi cần thiết mà không đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn đến công nghệ hiện có. Ngoài ra, cũng cần phải tránh những tác động xấu của công nghiệp hóa với quy mô lớn tới môi trường sống của chúng ta. Các giải pháp về năng suất xanh do vậy đang là vấn đề được quan tâm hiện nay. Năng suất xanh không chỉ đảm bảo giữ gìn môi trường tốt hơn mà còn nâng cao năng suất của các nguồn lực không thể tái tạo.

Vai trò của công nghệ thông tin đối với năng suất

Thập kỷ đã qua cho thấy công nghệ thông tin (CNTT) đang làm thay đổi bộ mặt của nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn như ở Mỹ, hàng năm tốc độ tăng trưởng nước này đạt được từ những năm 90 được duy trì liên tục ở mức độ trên 5%. Nguyên nhân chính là những bước đột phá trong cải tiến năng suất của hầu hết tất cả các thành phần kinh tế Mỹ đạt được thông qua việc nhanh chóng áp dụng CNTT. Những tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi cung cầu đã cho phép nền kinh tế Mỹ phát triển một cách nhanh chóng mà vẫn tránh được tình trạng lạm phát như trước đây. Các chuyên gia cho rằng CNTT đã đem lại những thay đổi về hiệu quả trên giờ làm việc của người lao động - các thay đổi này có thể cố định và được duy trì vì chúng có mối liên hệ chặt chẽ với những thay đổi về cơ cấu.

Giờ đây, Internet đã trở nên thông dụng đến nỗi nếu ai đó không hiểu biết gì về CNTT hoặc không biết cách sử dụng Internet thì không khác gì anh ta không biết đọc và viết. Do đó, sự phân bố không đều trong việc truy cập Internet có thể giải thích lý do tại sao nhiều nước có nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế và xã hội.

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia công nghiệp hóa mới và một số nước OECD cần phải được chia sẻ cho các nước đang phát triển. Một nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng Canada, Hà Lan và Tây Ban Nha đã có mức tăng trưởng kinh tế đáng kể mà nguyên nhân chủ yếu là do sự cải cách cơ cấu, từ đó phát triển thị trường lao động và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân. Các nước như Ailen, Phần Lan, Thụy Ðiển đã tăng trưởng mạnh nhờ sự tăng trưởng của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vì các nước này đã dành ít nhất 5% GDP đầu tư cho các thiết bị CNTT trong nửa cuối những năm 90.

CNTT đóng một vai trò quan trọng thể hiện ở nhiều mặt trong việc cải tiến hoạt động quản lý, tạo ra sự thỏa mãn khách hàng đồng thời tiết kiệm được thời gian và chi phí. Sử dụng CNTT trong điều kiện cơ sở vật chất và hoạch định chiến lược một cách hợp lý, Chính phủ sẽ có thể tìm ra phương pháp hữu hiệu hơn trong việc duy trì luật pháp và trật tự công cộng, giáo dục, y tế, mạng lưới truyền thông, giao thông, hệ thống quản lý thiên tai và hệ thống an toàn xã hội.

Sử dụng CNTT sẽ tạo điều kiện thuận lợi, giảm thời gian phản hồi, sự chậm trễ trong việc ra quyết định và do đó loại bỏ những cản trở không đáng có đối với tất cả các loại hình dịch vụ định hướng vào khách hàng như những ngành dịch vụ công cộng, ngân hàng, bảo hiểm và giao thông. Sử dụng CNTT còn mang lại sự tin cậy nhờ đó loại bỏ được những khuyết tật thường có trong hệ thống.

Chiến lược cải tiến năng suất

Ðể tăng trưởng và cạnh tranh trong thời đại điện tử, phương pháp tiếp cận theo lối tư duy quản lý những năm 90 có thể không còn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về vấn đề nắm vững giá cả và thông tin. Các chiến lược công ty, quá trình và cơ cấu tổ chức phải được sắp xếp lại để đạt được những cải tiến và đổi mới mang tính đột phá. Chẳng hạn như các tổ chức phải thay đổi cách làm bằng việc sử dụng internet, intranet và extranet hoặc các chiến lược CNTT khác. Các ứng dụng CNTT sẽ đem lại những thay đổi về chính sách tổ chức, các quá trình và hoạt động quản lý. Cùng với việc nâng cao sự bảo vệ môi trường, việc phát triển sản phẩm theo định hướng khách hàng đang góp phần tạo ra giá trị cho đồng tiền và nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời giúp khách hàng có thể lựa chọn một cách nhanh chóng. Ngày nay, các hãng lớn có thể lập thành các công ty nhỏ tập trung hơn, linh hoạt hơn và liên kết với nhau. Các công ty này sẽ sử dụng CNTT để thiết lập các mối liên hệ trực tiếp với khách hàng, nhà cung ứng và lao động. Các chiến lược đổi mới khác cũng trở nên rất quan trọng như triển khai hoạt động kinh doanh truyền thống trên mạng, phần mềm quản lý tri thức, các tổ chức chủ đạo, nghiên cứu và tiếp cận các dịch vụ, chia sẻ thông tin, phân chia các chi nhánh bán hàng, trang bị máy tính cá nhân cho người lao động để truy cập thông tin về hàng hóa, chính sách công ty, hoạt động tài chính và các lĩnh vực hoạt động khác của tổ chức sử dụng CNTT, khái niệm R&D, đổi mới nền văn hóa công ty, thiết lập bộ phận cung cấp (để cung cấp sản phẩm và dịch vụ), cũng như tận dụng triệt để để lợi ích tiềm tàng mà CNTT có thể mang lại.

Trong môi trường làm việc mới, công nghệ vốn chỉ là những công cụ mà việc sử dụng chúng lại phụ thuộc vào sự nhanh nhạy và tài giỏi của những người công nhân có tri thức. Họ là những người có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với hiệu quả hoạt động và năng suất của mỗi tổ chức doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh và khả năng vượt trội của một tổ chức sẽ chịu sự chi phối bởi cách thức quản lý nguồn nhân lực của tổ chức đó. Sự quản lý nhanh chóng, linh hoạt, có trọng điểm và thân thiện sẽ mang lại thành công hơn là cách quản lý nhân sự truyền thống. Người công nhân tri thức cần phải được quan tâm nhiều hơn khi hoạt động doanh nghiệp có tính tự quản cao hơn và có nhiều cơ hội phát triển cá nhân.

Cần phải xây dựng một môi trường mà trong đó tất cả người lao động có thể tham gia vào hoạt động sáng tạo nghiên cứu và phát triển (R&D) để tạo ra giá trị đích thực, đặc biệt trong ngành công nghiệp có quy mô nhỏ. Ðể tạo ra một môi trường làm việc mang tính sáng tạo cần phải thoát khỏi lối tư duy cũ và loại bỏ các rào cản thói quen cũng như xây dựng một môi trường nghiên cứu dựa trên các quy định mới. Ðộng thái này đã làm thay đổi định hướng từ công việc sang con người, từ quyền hành sang công việc. Ðiều này đồng nghĩa với việc phát triển một nền văn hóa công ty gắn liền với R&D, đổi mới, chất lượng và sự học hỏi lẫn nhau. Những đặc điểm mà một nền văn hóa tổ chức thích hợp cần phải có đó là tính cởi mở, độ tin cậy, sự trong sạch, công bằng và linh hoạt.

Một tổ chức mới phải có sự lãnh đạo sáng suốt với tầm nhìn xa trông rộng và một phong cách quản lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công việc chứ không phải để kiểm soát chúng. Tổ chức mới phải không ngại thử thách, phải định hướng vào người lao động, không ngừng cải tiến quá trình trong mọi lĩnh vực của chuỗi giá trị, tìm hiểu những khái niệm mới, chú trọng vào chất lượng chứ không phải là số lượng, quan tâm đến mối quan hệ đối ngoại, những liên minh chiến lược, những cơ cấu linh hoạt, chia sẻ kiến thức và tạo ra những cơ hội kinh doanh mới để xây dựng nên một môi trường làm việc phát huy được đầy đủ khả năng sáng tạo của con người.

Kết luận và khuyến nghị

Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị để gia nhập khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO), mỗi bước đi của các doanh nghiệp có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết các doanh nghiệp giờ đây phải liên tục đổi mới, cải tiến để nâng cao năng suất, chất lượng. Một cách chủ động, các doanh nghiệp phải đưa các hệ thống quản lý tiên tiến vào áp dụng tại đơn vị mình, ứng dụng CNTT, quản lý và phát triển nguồn nhân lực một cách đó có hiệu quả; đổi mới tư duy trong cơ chế thị trường - luôn coi lợi của khách hàng là trên hết.

Bên cạnh những nỗ lực của từng doanh nghiệp, cần có những chính sách và những phương pháp cải tiến, cần thiết phải phát triển cơ sở hạ tầng của CNTT, kết hợp thực hiện chiến lược tổng hợp và kế hoạch quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức. Ðể làm được điều này, các điểm sau đây có thể là quan trọng:

1. Phát triển cơ sở hạ tầng như xa lộ thông tin, dải tần, mạng cáp quang, cổng vào quốc tế, các viện chất lượng phần mềm, các các nhà thầu mạng, cơ sở hạ tầng thương mại điện tử cho sự trao đổi thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và giữa doanh nghiệp với khách hàng (B2C) để có thể tiếp cận với Internet dễ dàng hơn và trao đổi thông tin nhanh chóng hơn. Ðặc biệt, việc cung cấp máy tính cho các trường học thông qua các dự án phát triển là nhằm tăng cường sự thâm nhập của máy tính.

2. Những chính sách hỗ trợ tích cực của Nhà nước như miễn giảm thuế, những chính sách khuyến khích lao động phù hợp, tăng vốn kinh doanh sẽ là một phương pháp dài hạn trong việc thúc đẩy ngành công nghệ thông tin. Những cải cách về cơ cấu và giảm thiểu những trở ngại của luật định như các chính sách hạn chế liên doanh liên kết trong các ngành viễn thông, giao thông, tài chính và ngân hàng cũng sẽ tạo điều kiện cho việc quảng bá và phát triển nhanh chóng CNTT.

3. Xây dựng và thực hiện một kế hoạch mở rộng việc sử dụng CNTT trong các ngành dịch vụ hành chính công, các bộ, ngành thuộc Chính phủ, cơ quan luật pháp và các tổ chức công cộng khác. Ðây là những tổ chức phải được ưu tiên hàng đầu trong việc sử dụng CNTT.

4. Khuyến khích truyền bá kiến thức CNTT trong các trường phổ thông và đại học, các viện nghiên cứu và các dự án liên quan đến phần mềm và phát triển công nghệ mới để đáp ứng các nhu cầu của Chính phủ, ngành công nghiệp và nông nghiệp. Tăng cường tổ chức các khóa đào tạo đặc biệt về CNTT trong trường học.

5. Các chiến dịch tạo ra và nâng cao nhận thức tiện ích của CNTT và các ứng dụng của nó đối với nền kinh tế và người dân cũng là một trong những nội dung vô cùng quan trọng. Tổ chức các cuộc thi giữa các cấp trong các trường học nhân dịp lễ kỷ niệm năm CNTT và tháng kỹ thuật là một trong các trường học nhân dịp lễ kỷ niệm năm CNTT và tháng kỹ thuật là một trong những biện pháp hữu hiệu. Trong các hoạt động này, có thể đưa ra một số biện pháp khác như sự hợp tác giữa chính phủ và cá nhân, liên minh chiến lược với các công ty nổi tiếng trên thế giới và nâng cao mối quan hệ doanh nghiệp.

6. Ðể đẩy mạnh thương mại điện tử, cần giải quyết được các vấn đề liên quan đến thuế, thiết lập các hệ thống thanh toán điện tử đảm bảo độ tin cậy và an toàn; xây dựng các quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các cơ sở pháp lý để ngăn chặn tội phạm và bọn tin tặc.

7. Cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu về tác động của các ứng dụng CNTT đối với vấn đề việc làm mà đối tượng chính là các nhân viên ở độ tuổi trung niên và các công nhân có trình độ năng lực kém. Vấn đề đặt ra là Chính phủ có sự quan tâm đặc biệt để làm thế nào tạo cho họ có cơ hội thay đổi nghề nghiệp hoặc được đào tạo lại để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người lao động.

8. Triển khai áp dụng quản lý tri thức doanh nghiệp. Quản lý tri cần được coi như một công cụ tối cần thiết trong việc khai thác và quản lý tài sản tri thức của tổ chức. Chỉ khi tri thức của mỗi cá nhân được biến thành tài sản tri thức của toàn tổ chức và ngược lại, tri thức của tổ chức được đưa đến mỗi cá nhân để thực hiện công việc của họ tốt hơn thì năng suất sẽ cao hơn.

Nguồn lực chính của thời đại điện tử và kinh tế ngày nay là tri thức có trong mỗi con người và do đó, không giống như trong thời đại công nghiệp khi mà khối lượng sản xuất tạo ra lợi nhuận, con người trong thời đại tri thức đã trở thành trung tâm của quá trình phát triển và năng suất. Chỉ tổ chức doanh nghiệp nào biết tiếp cận, hiểu rõ và ứng dụng tri thức một cách hiệu quả cũng như không ngừng học hỏi để tăng cường hệ thống tri thức doanh nghiệp thì mới có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Do đó, việc tạo ra các tổ chức nghiên cứu thông qua phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp là công nghệ, dịch vụ đã trở thành nhân tố chính cho việc phổ biến và đào tạo kiến thức. Các quan điểm như Trường đại học thực sự là một doanh nghiệp và con người đóng vai trò chính đã thay đổi phương pháp làm việc so với trước đây. Tạo ra các hệ thống kết nối với nhau là một tất yếu để liên kết trí tuệ và chia sẻ kiến thức.

 

TS. NGUYỄN HỮU THIỆN

Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây