Tư liệu
Tiếp cận quản lý tri thức
Tư liệu khảo cứu
Khoa học công nghệ
NGUYỄN MINH TÂM
2002
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Kinh tế tri thức và quản lý tri thức

Trong khoảng thời gian từ những năm của thập kỷ 90 của thế kỷ trước đến nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và việc áp dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học đó vào hoạt động sản xuất, và đến lượt mình, sự phát triển sản xuất nhanh chóng tạo ra nhu cầu và điều kiện cho sự phát triển khoa học ở mức cao hơn. Ðiều đó tạo thành một vòng xoáy ốc ngày càng quanh nhanh hơn, mạnh hơn. Giá trị mà �chất xám� mang lại cho sản phẩm dịch vụ ngày càng chiến tỷ lệ lớn. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, khả năng suy nghĩ của con người đã được mở rộng, giống như ngày nào cuộc cách mạng cơ khí hoá đã tăng sức lực cho cơ bắp con người. Thực tế một điều kỳ diệu đã xảy ra, con người đã tìm ra được nguồn tài nguyên vô tận cho sự phát triển của mình, đó chính là tri thức. 

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà tri thức là động lực, là nguồn tài nguyên chủ yếu cho sự phát triển. Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái chưa biết, tìm ra cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới. Kinh tế tri thức như là một sự phát triển tất yếu của sự phát triển sản xuất xã hội. Nền kinh tế phát triển càng nhanh, mạnh tạo ra các giá trị theo cấp số nhân. Nền kinh tế tri thức mang tính nhân bản sâu sắc. Sự phát triển tri thức như là phát triển nguồn lực chủ yếu cho phát triển kinh tế xã hội, và điều này lại tạo ra sự phát triển mới cho tri thức. Phát triển tri thức chính là phát triển con người. Mục đích đích thực của sự phát triển. 

Việc phát triển nền kinh tế tri thức thúc đẩy nhanh chóng sức sản xuất của xã hội, vừa tạo ra cơ hội cho các nước đang phát triển. Song đó cũng là thách thức rất lớn, vấn đề mới đặt ra với các nước đang phát triển là sự nghèo nàn về tri thức. Nước ta, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, đang tìm những cách đi riêng để phát triển nhanh nền sản xuất của đất nước, theo kịp với sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới. Tại hội đảng lần IX, Ðảng ta đã chỉ ra đó là con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết hợp tuần tự và nhẩy vọt. Sau khi nhận định rằng: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất". Ðảng chỉ rõ: "Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhẩy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiến tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức". 

Trong mức độ vi mô, kinh tế tri thức có nhiều điểm nổi bật so với kinh tế công nghiệp, các yếu tố có ảnh hưởng sự phát triển của doanh nghiệp như: 

 

Kinh tế công nghiệp

Kinh tế tri thức

Tổ chức sản xuất

Hàng loạt

Linh hoạt

Quyết định sức cạnh tranh

Giá thành

Sáng tạo, chất lượng, thời gian

Ðòi hỏi kỹ năng lao động

Chuyên ngành

Rộng, đào tạo liên tục

Trạng thái việc làm

Ổn định

Thay đổi luôn, nhiều cơ hội & rủi ro

Mục tiêu lao động

Việc làm

Thu nhập ngày càng cao

Quan hệ doanh nghiệp

Lẻ loi

Liên minh, hợp tác

Yêu cầu với giáo dục

Ðào tạo kỹ năng

Học tập suốt đời

  Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp từ tri thức doanh nghiệp. Với vai trò là nguồn lực, là tài sản chính để phát triển sản xuất và tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tri thức phải được quản lý. Các cơ hội do sự phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là những điều kiện để thực hiện được điều đó. Ðể hiểu và thực hiện được quản lý tri thức, chúng ta hãy cùng tìm hiểu khái niệm về tri thức và các khái niệm liên quan: dữ liệu và thông tin.

 Tri thức là một khái niệm linh hoạt khó mô tả. Tri thức không phải là dữ liệu cũng không phải là thông tin. Dữ liệu là thực tế khách thu thập được mà không đánh giá, không giải thích một cách có hệ thống. Khi tiến hành phân tích, tổng thuật và đặt dữ liệu vào hệ thống, nó sẽ thành thông tin.

 Thông tin đơn giản là sự hợp nhất của các tập dữ liệu khác nhau trong một phạm vi được chỉ định, thông tin chính là dữ liệu có ý nghĩ và mục đích. Thông tin dùng để so sánh, giải thích các mối quan hệ, đánh giá, dự đoán và tiến hành đối thoại thì nó phát triển thành tri thức. Tri thức có thể được coi là thông tin có mang kinh nghiệm, đánh giá và sức khám phá sắc bén.

 Tri thức là thông tin, có thể làm thay đổi con người hoặc sự việc hoặc bằng cách trở thành nền tảng cho hành động, hoặc với khả năng nổi bật giúp hoạt động có hiện quả cao hơn rõ rệt.

 Như vậy là tập hợp các dữ liệu vẫn không phải là thông tin, tập hợp các thông tin chưa phải là tri thức, tập hợp các tri thức chẳng phải là sự thông thái. Thông qua sự tư duy nghiên cứu tổng hợp đúng đắn của con người tri thức mới có thể được tiếp cận và mang lại hiệu quả.

 Tri thức có thể phân chia ra thành tri thức hiển lộ và tri thức ẩn. Tri thức hiển lộ thường thấy ở dạng thông tin mà chúng ta truyền đạt cho nhau qua các sách viết, báo cáo hay khuyến nghị& Tri thức ẩn là tri thức mà người ta không thể giảng giải, chỉ có thể tiếp thu thông qua quan sát và đúc rút thực tiễn. Tri thức hiển lộ thực tế chỉ là một phần rất nhỏ tri thức của mỗi người. Việc nhận thức các tri thức quý giá ẩn giấu trong mỗi cá nhân và thể hiện cách hoạt động tổ chức, giúp tài sản tri thức của doanh nghiệp tăng lên; đây chính là mục đích quan trọng hàng đầu của quản lý tri thức.

 Ðối với các góc nhìn khác nhau có rất nhiều khái niệm về quản lý tri thức.

 Quản lý tri thức là sự xây dựng có hệ thống, rõ ràng và thận trọng, là sự đổi mới, sự áp dụng tri thức để tối đa hoá hiệu lực tri thức tương tác của doanh nghiệp, nhằm thu được tài sản tri thức.

 Quản lý tri thức là việc kết nối con người với con người và con người với thông tin để tạo ra sự nâng cao vị thế cạnh tranh.

 Quản lý tri thức là một qui trình mang tính hệ thống, kết hợp công nghệ thông tin và chính sách khuyến khích để thu thập, tổ chức và truyền đạt cả hai dạng tri thức hiển lộ và tri thức ẩn của các thành viên trong tổ chức với nhau qua đó tạo ra năng suất và hiệu quả trong hoạt động.

 Nhưng tựu chung, quản lý tri thức có thể hiểu đó là việc sáng tạo, tiếp nhận, lưu giữ, chia sẻ, phát triển và biến các tri thức đó thành các giá trị vật chất. Các yếu tố ảnh hưởng hay tạo nên khả năng quản lý tri thức của tổ chức đó là: chiến lược, đo lường, chính sách, nội dung, quá trình, công nghệ và văn hoá. Các yếu tố này giúp hình dung về quản lý tri thức của một tổ chức: là yếu tố mang lại sự sáng tạo và đổi mới, hoặc tiếp tục tác động đến các hoạt động sáng tạo tri thức.

 Các nguyên tắc của quản lý tri thức và tổ chức quản lý tri thức

Ðể có cơ sở xác lập nên các mô hình quản lý thích hợp với các hoàn cảnh cụ thể, có thể dựa trên nguyên tắc chung như sau:

 1.   Quản lý tri thức là tất yếu. Ðầu tư cho quản lý tri thức là tốn kém, nhưng không thể chối bỏ trên con đường phát triển. Việc tạo ra nguồn tài sản tri thức cho doanh nghiệp không thể nhanh chóng như mua một máy móc hay tìm kiếm một nguồn tài nguyên vật chất hiện hữu. Ðây là quá trình tổ chức học hỏi mang tính kế thừa, xây dựng từng lớp các tri thức ngày càng cao mang tính riêng biệt của tổ chức và đòi hỏi sự đầu tư tốn kém, lâu dài.

 2.   Quản lý tri thức chủ yếu là quả lý tri thức tiềm ẩn trong mỗi thành viên của tổ chức. Quản lý tri thức nhằm tạo điều kiện cho chúng bộc lộ, lưu chuyển tạo nên sức mạnh cho tổ chức.

 3.   Trong quản lý tri thức vấn đề cốt yếu là chia sẻ tri thức, nhưng mỗi người thường giữ lại những điều nhận thức riêng như là một lợi thế trong cạnh tranh. Hơn nữa đối với tri thức ẩn, thường khó có thể diễn đạt một cách tường minh đến người khác. Mặc dù người ta hiểu rằng tri thức không mất đi khi được đem trao đổi hay sử dụng, mà thậm chí nhờ đó được phát triển rộng ra các thành viên. Nếu hai người có ý tưởng mới và cùng chia sẻ, trao đổi thì đồng thời đôi bên vừa có hai ý tưởng ban đầu, có thể thêm ý tưởng phát triển mới. Tuy nhiên các ràng buộc của môi trường xã hội sống, bản năng sinh tồn thường ngăn trở những điều đó? Ðể tạo các cơ hội cho việc chia sẻ tri thức hiệu quả đó là trách nhiệm và cũng là thách thức lớn trong quản lý tri thức.

 4.   Ðể quản lý tri thức cần có đội ngũ các chuyên gia chuyên nghiệp nhằm phát hiện, môi giới, tạo các điều kiện lưu chuyển tri thức trong tổ chức. Ðiều cần hiểu biết không phải chỉ là công nghệ, mà còn là văn hoá, chính điều này mới có thể giúp họ thực hiện chức năng của mình đạt hiệu quả.

 5.   Quản lý tri thức cần biết rằng có các cặp khái niệm tương hỗ tự nhiên đó là: đối tượng và quá trình, sự vật và trình tự lưu chuyển, tài nguyên và khả năng. Giải quyết quan hệ tương hỗ đó là trách nhiệm của quản lý tri thức. Tối ưu hoá các quan hệ đó là cơ sở để quản lý tri thức có hiệu quả.

 6.   Hiệu lực của quản lý tri thức yêu cầu giải pháp có tính tổng hợp giữa con người và công nghệ. Quản lý tri thức đó là vấn đề cần được tiếp cận từ ở góc độ tổ chức, văn hoá và công nghệ. Yếu tố đầu liên quan đến con người đối tượng sáng tạo và tham gia chủ yếu trong quá trình trao đổi tri thứ; công nghệ là công cụ gia tăng quá trình này: Công nghệ thông tin được xem là công cụ thiết yếu cho quản lý tri thức. Tuy nhiên không nên nhận thức sai lệch cho rằng quản lý tri thức đồng nghĩa với xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin.

 7.   Quản lý tri thức mới là quá trình tiếp cận liên tục và không bao giờ kết thúc.

 Quản lý tri thức, tuỳ theo từng tổ chức phụ thuộc vào tính chất hoạt động, thuộc tính văn hoá và điều kiện vật chất cụ thể mà có thể có các mô hình khác nhau. Song các giai đoạn hoạt động chính có thể gồm 4 giai đoạn sau:

 -     Thu nhận thông qua quan sát, học tập đào tạo, hay chia sẻ kiến thức trong tổ chức, tiếp nhận các thông tin từ khách hàng, đối thủ và tri thức là của cá nhân và là ẩn.

 -     Chia sẻ thông qua quá trình làm việc, các khái niệm được phát triển, các ứng dụng giải quyết công việc được hình thành và tri thức ẩn của cá nhân được hiển lộ và thành tài sản chung của nhóm thực hiện.

 -     Tiêu chuẩn hoá và phối hợp tri thức các tri thức của nhóm cần có quá trình hoàn thiện, chuẩn hoá và nâng cao tạo thành tài sản của tổ chức, nó được tập hợp lại, so sánh với bên trong và bên ngoài tổ chức, rút ra thành các quy trình hướng dẫn để lưu trữ và sử dụng... Tri thức trở thành tài sản tri thức của tổ chức.

 -     Nâng cao và mở rộng, tài sản tri thức của tổ chức là nền tảng cho việc từng cá nhân tiếp tục nâng cao, học tập và sáng tạo các tri thức mới.

 Các giai đoạn trên tiếp nối nhau tạo nên một vòng xoáy ốc phát triển đi lên trong tổ chức. Quản lý tri thức muốn thành công trước hết phải bắt đầu từ lãnh đạo cao nhất với sự quyết tâm và tạo điều kiện. Một hệ thống toàn diện kết hợp hài hoà với công nghệ và mang tính nhân văn cao cũng là điều kiện quan trọng giúp quản lý tri thức được thành công.

 Xét về công cụ để thực hiện quản lý tri thức tuy có nhiều, song điều kiện phát triển công nghệ thông tin đã tạo nên công cụ quản lý tri thức hiệu quả nhất. Mặt khác chính nhu cầu về quản lý tri thức đã thúc đẩy công nghệ thông tin phát triển ngày càng nhanh chóng và sâu sắc.

 Thay lời kết

Quản lý tri thức đang là một đề tài rất được quan tâm của cả giới quản lý doanh nghiệp lẫn các nhà nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn. Còn rất nhiều vấn đề liên quan đang được tranh luận. Tuy nhiên nhiều nhà quản lý tiên phong đã và đang dần biến việc quản lý tri thức thành động lực, tài sản tri thức cho sự phát triển cho doanh nghiệp. Tuy vấn đề đặt ra còn có thể có sai lầm, nhưng tiếp cận quản lý tri thức là cần thiết trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp:

 1.   Xây dựng chiến lược quản lý tri thức trên cơ sở các tri thức và hệ thống mà tổ chức dùng để tăng khả năng cạnh tranh. Một chuyên gia về quản lý tri thức đã xác định 6 thành phần của nó là: lãnh đạo, văn hoá, nội dung quản lý, công nghệ, áp dụng và đo lường.

 2.   Xác định và liên thông tính hữu dụng của tri thức như là giá trị và sự sử dụng tri thức của tổ chức trong công việc.

 3.   Nhận diện vị trí của tri thức bằng cách xác định tính hữu dụng của tri thức để nhằm cạnh tranh thành công.

 4.   Phát triển các tài năng chia sẻ tri thức: tạo điều kiện môi giới, nâng cao nhận thức đối với việc chia sẻ, sử dụng thông tin.

 5.   Khích lệ khen thưởng tinh thần chia sẻ tri thức trong tổ chức có thể có kế hoạch, công khai và hữu ích. Nếu mục tiêu của tính hữu dụng không phải là một phần của công việc quản lý thì công ty sẽ ít thành công trong việc mở rộng trên thế giới.

 6.   Tập trung vào mối liên hệ (con người, quá trình hay công nghệ), tạo điều kiện giúp tri thức được chia sẻ.

 7.   Khuyến khích các mạng lưới và quan tâm đến các nhóm đối tượng. Tổ chức các cuộc hội họp nhóm hay trực diện để chuyển giao các tri thức ẩn và là hạt giống tốt cho các ý tưởng mới.

 8.   Gìn giữ và phát triển những thói quen tốt nhất (từ dịch vụ khách hàng cho đến các vấn đề kỹ thuật).

 9.   Xác lập bản đồ tri thức từ chiến lược quản lý tri thức, chỉ dẫn giúp mọi người có thể dễ dàng tìm thấy thông tin cần thiết, giúp tập trung tri thức vào mục tiêu chính trong kinh doanh.

 10. Xác lập chính sách liên quan đến tính hữu dụng của tri thức tương xứng với vị trí của nó và trân trọng sự cam kết của tổ chức trong văn hoá và các quy ??nh ch? d?n c?a cơng ty đối với tất cả công nhân tham gia cộng tác.

  

 

NGUYỄN MINH TÂM 

Chi cục Tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng Lâm Ðồng

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Khoa học công nghệ, kinh tế tri thức và công nghiệp hoá rút ngắn ở nước ta. Ðặng Hữu. Bài nói chuyện tại Học viện chính trị quốc gia Hồ chí Minh.  

Sự thách thức của quản lý tri thức. Empson L. TN2001-41 Viện thông tin KHXH.  

Why Knowledge Management Systems Fail? Yogesh Malhotra. yogesh.malhotra@brint.com  

Knowledge management model guides KM process. Cynthia Taylor Small and Jean Tatalias @mitre.org  

Some Principles of Knowledge Management. Thomas H. Davenport. http://www.bus.utexas.edu  

The ABC of knowledge management. Megan Santosus & John Surmacz. http://www.cio.com/research/knowledge/edit/kmabcs.html  

What is Knowledge Management? From Recent Peer-Reviewed Journals and Books at http://www.brint.com  

What is really Knowledge Management? Crossing the Chasm of Hype

by Dr. Yogesh Malhotra, @Brint.com BizTech Network  

Managing enterprises using knowledge management - some concepts. Ron Robinson Convenor, ACT KM Forum http://groups.yahoo.com/group/act-km  

Ten steps ways to embed knowledge management. http://www.km-review.com

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây