Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nhiệt độ và lượng mưa của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1990-2019
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Lâm Đồng
2020
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Khí hậu thủy văn là yếu tố chịu sự chi phối mãnh liệt của cơ chế hoàn lưu khí quyển, vị trí địa lý, địa hình và chịu tác động của con người. Để chủ động trong sản xuất, đời sống, quốc phòng..., đòi hỏi phải nắm bắt những quy luật cơ bản về khí hậu thủy văn.

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm chế độ khí tượng thuỷ văn có những biến động khác thường như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ và lũ quét xảy ra nhiều hơn, ác liệt hơn, hay tình trạng hạn hán kéo dài, xảy ra trên diện rộng với quy mô toàn tỉnh, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sản xuất của nhân dân.

Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá điều kiện khí tượng thủy văn thông qua chuỗi số liệu đồng bộ để rút ra các quy luật phổ biến phân bố theo không gian và thời gian sẽ giúp chủ động hơn trong phòng tránh thiên tai; đồng thời, phục vụ công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên chặt chẽ, hợp lý, góp phần phát triển nền kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trường.

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả chỉ đánh giá xu thế biến đổi nhiệt độ và lượng mưa qua 3 thập kỷ gần đây.

Chế độ nhiệt

Nhìn chung, tỉnh Lâm đồng có một nền nhiệt độ mát mẻ quanh năm, sự biến động của nhiệt độ giữa các mùa không lớn.

Nhiệt độ cao nhất trung bình tháng tại Đà Lạt dao động từ 24,6-27,7oC; tại Liên Khương từ 28,1-31,7oC; tại Bảo Lộc từ 28,8-31,4oC; tại Cát Tiên từ 33,3-36,6oC.

- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tại Đà Lạt là 30,5oC (tháng 3/2016); tại Liên Khương là 34,3oC (tháng 3/2016); tại Bảo Lộc là 34oC (tháng 3/2010); tại Cát Tiên là 38oC (tháng 3/2016).

- Nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng tại Đà Lạt từ 8,2-14,9oC; tại Liên Khương từ 11,7-18oC; tại Bảo Lộc từ 12,1-18,7oC; tại Cát Tiên từ 16,7-22,9oC.

- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối nhất tại Đà Lạt là 4,5oC (tháng 01/2015); tại Liên Khương là 7,9oC (tháng 01/1996); tại Bảo Lộc là 8,8oC (tháng 01/1993); tại Cát Tiên là 14oC (tháng 01/2014).

Đánh giá nhiệt độ không khí trung bình tháng

Xét riêng từng thời kỳ trong chuỗi số liệu 30 năm cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình tháng qua các thời kỳ 1999-2000, 2001-2009, 2010-2019 là khác nhau.

Tại trạm Đà Lạt

Bảng 1. Nhiệt độ không khí trung bình tháng tại trạm Đà Lạt qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

15,6

16,5

17,8

18,8

19,3

19

18,6

18,4

18,4

17,9

17,2

16,1

2001-2009

15,9

16,9

17,8

19

19,5

19,2

18,7

18,4

18,7

18

17,6

16,5

2010-2019

16,4

17

18,4

19,2

20,1

19,7

19,2

19,2

18,9

18,5

18,1

17

 

 

Qua bảng số liệu trên cho thấy, xu hướng gia tăng đáng kể nhiệt độ trung bình tháng và trung bình nhiều năm qua các thời kỳ:

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 15,6-19,3oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 17,8oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 15,9-19,5oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 18oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2010-2019 dao động từ 16,4-20,1oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 18,5oC.

Như vậy, trong vòng 3 thập kỷ qua, nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm qua các thời kỳ đã tăng lên 0,7oC (mức độ cũng không lớn).

Tại trạm Liên Khương

Bảng 2. Nhiệt độ không khí trung bình tháng tại trạm Liên Khương qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

19,8

21,3

21,6

22,7

23,2

22,4

22

21,7

21,6

21,1

20,6

19,9

2001-2009

19,4

20,3

21,7

22,8

22,7

22,4

22

21,6

21,6

21,2

20,7

19,8

2010-2019

20,1

20,6

22,1

23,2

23,6

22,9

22,3

22,3

22,1

21,9

21,7

20,6

 

Qua bảng số liệu trên cho thấy, xu hướng gia tăng đáng kể nhiệt độ trung bình tháng và trung bình nhiều năm qua các thời kỳ:

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 19,8-23,2oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 21,5oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 19,4-22,8oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 21,4oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2010-2019 dao động từ 20,1-23,6oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 22oC.

Như vậy, trong vòng 3 thập kỷ qua, nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm qua các thời kỳ đã tăng lên 0,6oC (mức độ cũng không lớn).

Tại trạm Bảo Lộc

Bảng 3. Nhiệt độ không khí trung bình tháng tại trạm Bảo Lộc qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

20,3

21,1

22,1

23

23,3

22,7

22,2

22,1

22,2

21,8

21,3

20,5

2001-2009

20,4

21,4

22,6

23,4

23,3

22,8

22,2

22,1

22,3

22

21,5

20,5

2010-2019

20,8

21,6

22,8

23,5

24

23,1

22,6

22,6

22,4

22,4

22

20,9

 

Qua bảng số liệu trên cho thấy, xu hướng gia tăng đáng kể nhiệt độ trung bình tháng và trung bình nhiều năm qua các thời kỳ:

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 20,3-23,3oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 21,9oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 20,4-23,4oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 22oC.

- Nhiệt độ trung bình tháng giai đoạn 2010-2019 dao động từ 20,8-23,5oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 22,4oC.

Như vậy, trong vòng 3 thập kỷ qua, nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm qua các thời kỳ đã tăng lên 0,5oC (mức độ cũng không lớn).

Tại trạm Cát Tiên

Vì trạm Cát Tiên mới được thành lập từ năm 2011, do đó, chỉ đưa ra nhận xét về chế độ nhiệt ở Cát Tiên từ năm 2011-2019.

- Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 24,9-27,7oC. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 26,3oC.

- Nhiệt độ cao nhất trung bình tháng dao động từ 33,3-36,6oC. Giá trị cao nhất tuyệt đối là 38oC (tháng 3/2016).

- Nhiệt độ thấp nhất trung bình tháng dao động từ 16,7-22,9oC. Giá trị thấp nhất tuyệt đối là 14oC (tháng 01/2014).

Chế độ mưa

Phân phối theo không gian của lượng mưa ở Lâm Đồng không đồng đều; lượng mưa năm tăng từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Chênh lệch lượng mưa giữa vùng mưa ít và vùng mưa nhiều lên đến trên 1.000 mm.

- Khu vực phía Bắc của tỉnh (Đà Lạt, Lạc Dương): tổng lượng mưa năm dao động từ 1.775-1.861 mm.

- Khu vực giữa tỉnh (Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh): tổng lượng mưa năm dao động từ 1.304-1.742 mm.

- Khu vực phía Nam của tỉnh (Bảo Lâm, Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên) là nơi nằm ngay các sườn núi cao đón gió Tây Nam nên có tổng lượng mưa năm lớn, dao động từ 2.045-3.165 mm.

- Nơi ít mưa nhất là vùng khuất gió của dãy núi phía Đông (Đơn Dương, Di Linh) có tổng lượng mưa năm dưới 1.500 mm.

Bảng 4. Tổng lượng mưa (mm) trung bình tháng tại các trạm thuộc tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1999-2019

Trạm

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Lạc Dương

20

54

168

438

453

371

411

440

544

453

206

72

Suối  Vàng

16

28

115

323

351

330

367

421

481

426

154

51

Đa Nhim

14

13

63

180

251

196

161

194

228

204

156

73

Đà Lạt

10

24

77

175

226

200

218

242

280

243

115

42

Đam Rông

4

10

31

130

232

248

282

302

302

183

111

30

Thanh Bình

6

16

59

159

239

171

176

180

244

228

104

31

Nam Ban

4

13

61

143

239

175

185

235

269

218

92

22

Liên Khương

6

12

52

135

227

178

185

192

278

238

100

35

Đơn Dương

4

2

27

79

169

147

150

155

251

226

119

45

Đại Ninh

7

4

32

92

177

163

194

200

239

210

80

15

Di Linh

16

12

46

105

172

195

239

229

241

185

102

33

Đại Nga

34

34

98

171

197

225

313

324

299

289

151

53

Bả0 Lộc

62

60

135

228

260

317

435

475

422

363

198

82

Đạ Tẻh

15

11

56

117

244

403

499

500

504

335

170

49

Cát Tiên

18

45

39

181

320

428

610

532

633

468

192

52

 

 

- Thời kỳ bắt đầu mùa mưa ở khu vực phía Bắc của tỉnh (Lạc Dương, Đà Lạt) bắt đầu từ tuần giữa tháng 4; kết thúc vào tuần đầu tháng 11. Khu vực phía Đông (Liên Khương, Nam Ban, Đơn Dương...) bắt đầu từ tuần đầu tháng 5; kết thúc sớm hơn vào tuần cuối tháng 10. Khu vực phía Nam (Bảo Lộc, Di Linh, Đạ Tẻh...) bắt đầu từ tuần đầu tháng 4; kết thúc vào tuần giữa tháng 11. Cách xác định này hoàn toàn phù hợp với tần suất xuất hiện lượng mưa trên 100 mm ứng với các tháng mùa mưa.

Như vậy, các khu vực thuộc phía Nam của tỉnh (Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên) nằm ở sườn đón gió mùa Tây Nam nên mùa mưa đến sớm (tuần đầu tháng 4) và kết thúc muộn (đến tuần giữa tháng 11).

Tổng lượng mưa trong mùa mưa chiếm 75-85% tổng lượng mưa cả năm; tổng lượng mưa mùa khô chiếm 15-25% tổng lượng mưa năm.

Đánh giá về lượng mưa

Xét riêng từng thời kỳ trong chuỗi số liệu 30 năm cho thấy, tổng lượng mưa tháng tại các thời kỳ 1999-2000, 2001-2009, 2010-2019 là khác nhau.

Tại trạm Đà Lạt

Bảng 5. Tổng lượng mưa (mm) trung bình tháng tại trạm Đà Lạt qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

6

28

78

193

226

222

214

226

250

256

97

51

2001-2009

9

16

100

134

209

178

202

299

271

235

113

28

2010-2019

15

27

53

198

242

201

237

200

320

239

134

49

 

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 6-256 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.848 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 9-299 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.794 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2009-2019 dao động từ 15-320 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.914 mm.

Qua bảng số liệu trên cho thấy, có xu hướng gia tăng về tổng lượng mưa trung bình tháng và trung bình nhiều năm qua các thời kỳ, nhưng mức tăng không lớn.

Tại trạm Liên Khương

Bảng 6. Tổng lượng mưa (mm) trung bình tháng tại trạm Liên Khương qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

4

20

69

154

224

184

176

169

240

208

90

49

2001-2009

3

12

55

118

224

181

173

241

272

235

85

20

2010-2019

12

4

34

133

231

168

206

167

323

270

124

36

 

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 4-240 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.587 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 3-272 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.617 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2009-2019 dao động từ 4-323 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 1.709 mm.

Như vậy, trong vòng 3 thập kỷ qua, tổng lượng mưa trung bình nhiều năm có xu hướng tăng lên từ 30-92 mm.

Tại trạm Bảo Lộc

Bảng 7. Tổng lượng mưa (mm) trung bình tháng tại trạm Bảo Lộc qua các thời kỳ

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

1999-2000

37

65

95

226

242

277

417

450

399

298

173

92

2001-2009

85

72

169

211

303

3o4

46o

622

451

436

186

86

2010-2019

64

44

141

246

235

371

427

353

415

356

235

69

 

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 1999-2000 dao động từ 37-450 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 2.772 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2001-2009 dao động từ 72-622 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 3.386 mm.

- Tổng lượng mưa trung bình tháng giai đoạn 2009-2019 dao động từ 44-427 mm. Giá trị trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 2.954 mm.

Như vậy, trong vòng 3 thập kỷ qua, tổng lượng mưa trung bình nhiều năm có sự biến động rất lớn (có xu thế tăng mạnh ở thời kỳ 2001-2009).

Tại trạm Cát Tiên

Bảng 8. Tổng lượng mưa (mm) trung bình tháng tại trạm Cát Tiên

Thời kỳ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

2011-2019

18

45

39

181

320

428

610

532

633

468

192

52

 

Do trạm Cát Tiên mới được thành lập từ năm 2011, do đó, chỉ đưa ra nhận xét chung về chế độ mưa tại Cát Tiên từ năm 2011-2009.

Tổng lượng mưa trung bình các tháng trong giai đoạn này dao động từ 45-610 mm; giá trị tổng lượng mưa năm trung bình nhiều năm trong giai đoạn này là 3.517 mm.

***

Những biến động của các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa kết hợp với sự thay đổi diện mạo của bề mặt đất được xem là nguyên nhân chính gây ra các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác như gió lốc, mưa đá, giông sét... Chỉ trong vài năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên xảy ra ở Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung gây tổn thất không nhỏ tại những vùng bị ảnh hưởng.

Rõ ràng, biến đổi khí hậu đã có những tác động xấu đến đời sống, sản xuất của nhân dân và môi trường sinh thái của khu vực. Ở một góc độ khác, các hoạt động làm thay đổi diện mạo bề mặt của khu vực cũng có các tác động đến diễn biến khi hậu thời tiết của khu vực và các vùng lân cận. Việc gia tăng đột biến số lượng và mức độ gây hại của các loại thiên tai như hạn hán, cháy rừng, lũ lớn, lũ quét, sạt lở đất ở Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng có một phần nguyên nhân từ chính các hoạt động của con người.

Hiện nay, nghiên cứu khoa học đã chỉ rõ mối liên hệ giữa hoạt động của con người tác động đến điều kiện thiên nhiên và môi trường là nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu; từ đó, làm gia tăng thiên tai gây hại trở lại cho con người. Do vậy, vấn đề khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững đi đôi với bảo vệ tài nguyên, môi trường luôn được Đảng, Nhà nước, chính quyền và nhân dân quan tâm sâu sắc.

Thiết nghĩ, việc đầu tư công tác nghiên cứu, đánh giá đầy đủ, khách quan về tình hình, mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là cần thiết. Vì đó là một trong những cơ sở khoa học chủ đạo phục vụ công tác hoạch định các chương trình, dự án nâng cao năng lực phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường hiệu quả phòng, chống thiên tai và bảo vệ môi trường sinh thái của khu vực.

Số 3/2020

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH


HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 35/2020 - 28/09/2020
Số 35/2020 Xem thêm
Số 34/2020 - 28/09/2020
Số 33/2020 - 28/09/2020
Số 32/2020 - 10/09/2020
Số 31/2020 - 10/09/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 6.464.051
  • Đang online: 2.894
  • Trong tuần: 23.576
  • Trong tháng: 91.168
  • Trong năm: 1.579.022