Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Th.S Ngô Thị Hồng Loan
2020
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Thực trạng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại trong phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Những năm qua, nguồn nhân lực ở Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nguồn nhân lực ở Việt Nam trên thực tế vẫn còn tồn tại những hạn chế, đó là: về cơ bản chất lượng còn thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; thiếu hụt lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động một số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin viễn thông, du lịch…) và công nghiệp mới; tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp; chậm thích nghi với môi trường mới, năng lực đổi mới, sáng tạo khoa học và công nghệ của lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém; khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn; việc đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp xu thế sử dụng lao động của doanh nghiệp. Việc thúc đẩy khởi nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2020, có 28,5% doanh nghiệp không tuyển được lao động theo yêu cầu. Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động cũng biến động qua các năm.

Bảng 1. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi phân theo thành thị, nông thôn và giới tính

Đơn vị tính: %

Năm

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

Thành thị

 

 

 

1,20

0,84

0,73

0,84

0,65

Nông thôn

 

 

 

2,96

2,39

2,12

2,07

1,78

Tỷ lệ thất nghiệp nam

3,60

3,21

3,59

2,09

2,39

2,37

2,36

1,97

Tỷ lệ thất nghiệp nữ

1,60

1,39

1,54

2,10

2,26

2,22

2,11

2,46

Tỷ lệ thiếu việc làm nam

1,58

1,56

1,48

2,47

1,92

1,52

1,49

1,38

Tỷ lệ thiếu việc làm nữ

3,56

3,27

3,31

2,22

1,85

1,84

1,78

1,43

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Bảng 2. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi phân theo nhóm tuổi

Đơn vị tính: %

Năm

Tỷ lệ thất nghiệp

Tỷ lệ thiếu việc làm

15-24

25-49

> 50

15-24

25-49

> 50

Sơ bộ 2018

6,92

1,49

0,99

2,23

1,27

1,26

2017

7,50

1,36

0,86

2,12

1,57

1,38

2016

7,43

1,46

0,84

2,57

1,58

1,21

2015

7,03

1,49

0,86

3,05

1,72

1,46

2014

6,26

1,18

3,52

3,18

2,22

1,76

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Bảng 3. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

Đơn vị tính: %

Năm

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

Sơ bộ 2018

Dạy nghề

4,0

4,7

5,3

4,9

5,0

5,0

5,4

5,5

Trung cấp chuyên nghiệp

3,7

3,6

3,7

3,7

3,9

3,9

3,8

3,7

Cao đẳng

1,7

1,9

2,0

2,1

2,5

2,7

2,8

3,1

Đại học trở lên

6,1

6,4

6,9

7,6

8,5

9,0

9,4

9,6

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và những thách thức đặt ra

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm công nghệ sinh học, kỹ thuật số và vật lý. Trong đó, lĩnh vực kỹ thuật số tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT), dữ liệu lớn (Big Data); lĩnh vực công nghệ sinh học tập trung nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học, vật liệu; lĩnh vực vật lý tập trung vào nghiên cứu robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…) và công nghệ nano. Đánh giá về tầm quan trọng của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chủ tịch WEF ASEAN Klaus Schwab nhấn mạnh: “Những ai muốn thành công trong tương lai cần tận dụng lợi thế đến từ Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đầu tiên, họ cần nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của sự chuyển mình này. Sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới. Khi đó, một thế giới chạy bằng robot, máy tính và trí tuệ nhân tạo sẽ phát triển đến mức thay thế con người trong việc phán đoán và quản lý các hệ thống phức tạp”. Tuy nhiên, Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, địa phương, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có vấn đề phát triển chất lượng nguồn nhân lực.

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng để nền kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức; làm thay đổi cơ bản trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất; tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động, từ đó thị trường lao động sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động… dẫn đến sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh; dư thừa lao động có kỹ năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội đất nước... Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động mạnh đến một số ngành, lĩnh vực như công nghệ thông tin, phân tích và xử lý dữ liệu lớn, mô hình quản lý sản xuất, yêu cầu mới về sở hữu trí tuệ, an toàn, an ninh mạng. Trong một số lĩnh vực, với sự xuất hiện của robot sẽ làm giảm số lượng nhân viên cần thiết chỉ còn 1/10 so với hiện nay, theo đó 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất nghiệp, đây cũng là một trong những thách thức lớn nhất khi đối diện với Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam. Với những ngành nghề truyền thống sử dụng nhiều lao động sẽ dần mất đi và nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm. Cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đe dọa việc làm của những lao động trình độ thấp mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu như họ không được trang bị kỹ năng mới.

Nhận thấy tầm quan trọng của Cuộc cách mạng công nghệp 4.0 đối với sự phát triển quốc gia, để biến những thách thức thành cơ hội, Việt Nam cần tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh, bền vững dựa trên khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chiến lược tổng thể và hệ thống cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực

Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một chủ trương lớn, nhiệm vụ quan trọng; do đó, đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng với một tư duy đột phá và tầm nhìn lâu dài, phù hợp với thực tiễn. Chiến lược phải xác định rõ mục tiêu, quy mô, lộ trình và những cơ chế, chính sách tổng thể. Mục tiêu chiến lược phải ưu tiên khắc phục mâu thuẫn giữa phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu; xác định quy mô, số lượng và cơ cấu của từng loại nhân lực cho phù hợp. Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, gắn quy hoạch phát triển nhân lực của mỗi bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đồng bộ với chiến lược, kế hoạch phát triển chung của đất nước. Chiến lược cũng xây dựng lộ trình thực hiện một cách hợp lý, có tính dự báo cao, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách toàn diện và đồng bộ.

Điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực. Bàn về vấn đề này, Đảng ta xác định: “Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực hiện tốt cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; coi trọng đào tạo đại học và trên đại học, cao đẳng và dạy nghề theo chuẩn khu vực và quốc tế. Tạo chuyển biến nhanh và rõ nét trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế; nâng cao năng lực, trình độ quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp”. Có chính sách thỏa đáng để tạo nguồn lực và khai thác có hiệu quả nguồn lực mới, nhất là trong những ngành mũi nhọn về công nghệ của quốc gia: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người lao động khi tham gia đào tạo lại, đào tạo nâng cao chuyên môn và kỹ năng để chuyển đổi công việc”.

Đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực

Về giáo dục và đào tạo, cần rà soát tổng thể, thực hiện đổi mới nội dung và chương trình giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển; đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu. Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số; lấy đánh giá của doanh nghiệp làm thước đo cho chất lượng đào tạo của các trường đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số. Tiến hành rà soát, sắp xếp, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường lao động trong cả nước, từng vùng và địa phương. Các cơ sở đào tạo phải coi trọng quản lý tốt chất lượng “sản phẩm đầu ra” thông qua các hình thức đánh giá năng lực thực hành của người học trong quá trình đào tạo.

Xây dựng, vận hành cơ chế hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: “Có cơ chế khuyến khích và ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục và đào tạo, tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế số. Xây dựng một số trung tâm giáo dục, đào tạo xuất sắc về công nghệ theo hình thức hợp tác công - tư…”. Cơ sở đào tạo cần có sự nghiên cứu hợp tác với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội trong việc biên soạn chương trình để tiến hành đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực theo yêu cầu xã hội, xây dựng các phòng thí nghiệm theo hình thức hợp tác công - tư... Để gắn kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, cần có chế độ ưu đãi đối với các doanh nghiệp tham gia ký kết hợp đồng với các cơ sở đào tạo; hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp lớn, ở các lĩnh vực như vật liệu mới tiên tiến, công nghệ thông tin, công nghệ nano, tự động hóa, điện tử viễn thông, lưu trữ năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học…

Tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực

Ban hành bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống chính sách của Nhà nước về vấn đề hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Từng bước hội nhập hệ thống chương trình đào tạo của Việt Nam với chương trình đào tạo hiện đại của thế giới. Tập trung ưu tiên xây dựng các cơ sở đào tạo đạt trình độ quốc tế và đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhóm nhân lực trình độ cao trong các ngành trọng điểm đạt trình độ của các nước tiên tiến. Nghiên cứu mô hình và kinh nghiệm đào tạo phát triển nhân lực trình độ cao thành công của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức, Hàn Quốc,… Tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo, cơ sở sử dụng lao động và nhân lực trình độ cao tham gia giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ký kết hợp tác giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Việt Nam với các nước tiên tiến trong việc đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam. Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh và hướng đến nền kinh tế tri thức, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều phải chú trọng đầu tư đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực chất lượng cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 về Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 về Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

3. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 về Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

4. Thủ tướng Chính phủ (2017), Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về Tăng cường năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

5. Trần Thị Vân Hoa (2017), Cách mạng công nghiệp 4.0 vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội.

Số 3/2020

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH


HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 35/2020 - 28/09/2020
Số 35/2020 Xem thêm
Số 34/2020 - 28/09/2020
Số 33/2020 - 28/09/2020
Số 32/2020 - 10/09/2020
Số 31/2020 - 10/09/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 6.454.073
  • Đang online: 122
  • Trong tuần: 13.598
  • Trong tháng: 81.190
  • Trong năm: 1.569.044