Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề tại địa phương
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Phòng Kinh tế thành phố Đà Lạt
2020
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các làng nghề truyền thống của Việt Nam nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của các làng quê, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân vùng nông thôn. Tuy nhiên, sản phẩm của các làng nghề chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ (do chất lượng chưa đồng đều, mẫu mã chậm đổi mới...). Vì vậy, việc đưa ra các giải phát để phát triển bền vững các làng nghề là vô cùng cần thiết.

Trong những năm qua, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, triển khai công tác phát triển làng nghề như:

- Quyết định số 66/2003/QĐ-UB ngày 29/5/2003 của UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2003-2010;

- Quyết định số 50/2008/QĐ-UBND ngày 07/11/2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quy định công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống;

- Quyết định số 1420/QĐ-UBND ngày 30/6/2016 của UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020;

- Quyết định số 450/QĐ-UBND ngày 06/3/2018 của UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt đề án Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch trên địa bàn Lâm Đồng giai đoạn 2018-2020 và định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 52/2013/QĐ-UBND ngày 30/10/2013 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quy chế quản lý hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng;

- Quyết định số 53/2016/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành quy định mức hỗ trợ cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng;

- Văn bản số 263/UBND-NN ngày 14/01/2019 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc thực hiện Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về Phát triển ngành nghề nông thôn;

- Văn bản số 182/BC-SNN ngày 04/7/2018 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục làng nghề cần bảo tồn lâu dài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

Ngoài ra, còn có các văn bản khác liên quan đến việc triển khai thực hiện phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Hiện trạng phát triển làng nghề tại tỉnh Lâm Đồng

Hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 30 làng nghề, trong đó UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành quyết định công nhận 16 làng nghề (11 làng nghề truyền thống và 5 làng nghề).

Về nhân lực: có 4.975 hộ với hơn 9.291 lao động trực tiếp tham gia sản xuất, chế biến trong các tổ chức nghề và làng nghề được công nhận.

Về thu nhập: tại các hộ làng nghề truyền thống trồng hoa ở thành phố Đà Lạt, mức thu nhập từ 20-25 triệu đồng/hộ/tháng; giá trị trên một ha đất canh tác hoa đạt từ 0,9-1,2 tỷ đồng/năm. Tại các hộ làng nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa, từ 8-10 triệu/đồng/tháng. Tại làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm, rượu cần, mây, tre đan, bình quân mức thu nhập từ 1-2 triệu đồng/người/tháng. Còn lại, các nhóm cơ sở làng nghề khác có thu nhập bình quân khoảng 1,5-2,5 triệu đồng/người/tháng.

Về quy mô: hầu hết các làng nghề đều có quy mô nhỏ, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình. Có khoảng 32% làng nghề chủ động được nguồn nguyên liệu tại chỗ.

Về mẫu mã: còn thô sơ, chủ yếu do tự thiết kế và tạo mẫu mã theo đơn đặt hàng của khách hàng. Sản phẩm của các làng hoa cơ bản đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã và đang sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Hoa Đà Lạt.

Về thị trường: sản phẩm của các làng nghề được tiêu thụ chủ yếu trong nước, trong đó 37% bán ra ngoài tỉnh thông qua các đầu mối lớn; 4,5 % bán tại các khu, điểm du lịch cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng. Riêng đối với các sản phẩm của làng nghề trồng hoa, 80% sản lượng tiêu thụ tại Thành phố Hồ Chí Minh; 5% tại Hà Nội; 10% tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên; 5% xuất khẩu.

Phát triển ngành nghề nông thôn đã thu hút, tạo việc làm, tăng thu nhập cho một lực lượng lao động tại chỗ khá đáng kể. Nhờ có nguồn lao động dồi dào, chịu khó, cần cù, các làng nghề đã từng bước sản xuất ra nhiều sản phẩm với mẫu mã, chủng loại đa dạng, phong phú, chất lượng của sản phẩm được nâng lên rõ rệt. Nhờ đó đời sống của người dân tại các làng nghề ngày càng được nâng lên, đồng thời đóng góp đáng kể vào ngân sách địa phương.

Mặc dù, thị trường có nhiều biến động về giá cả nhưng các cơ sở ngành nghề, làng nghề… vẫn duy trì hoạt động sản xuất - kinh doanh ổn định. Một số làng nghề truyền thống trồng hoa đã chủ động đầu tư xây dựng nhà kính hiện đại, chuyển sang canh tác một số giống hoa mới được thị trường ưa chuộng và đặc biệt từng bước gắn sản xuất với du lịch, dịch vụ, góp phần tạo nên thương hiệu cho sản phẩm du lịch mới của tỉnh Lâm Đồng.

Triển khai thực hiện các chương trình, đề án về phát triển ngành nghề nông thôn, những năm qua, tỉnh đã hỗ trợ 19 làng nghề, 1 hợp tác xã đầu tư trang thiết bị, công cụ, nguyên - vật liệu để mở rộng quy mô sản xuất, tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất sau thu hoạch, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ làng nghề từ 2-4 lần so với thuần nông.

Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cũng đã xây dựng quy định công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống và các nội dung hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; hiện đang trình UBND tỉnh thẩm định và phê duyệt.

Thuận lợi, khó khăn

Thuận lợi

Được sự hỗ trợ, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn của các cấp, ngành, chính quyền địa phương trong tỉnh thông qua các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư.

Ngành nghề mây, tre đan ở các huyện phía Nam do có vùng nguyên liệu từ rừng khá phong phú, đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lực lượng lao động tại chỗ.

Một số địa phương đã lập quy hoạch điểm, khu, cụm công nghiệp tập trung (như thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc và huyện Đức Trọng); qua đó, tạo điều kiện cho các ngành nghề phát triển và thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm.

Khó khăn, tồn tại

Theo các hoạt động ngành nghề nông thôn tại Điều 4 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, một số hoạt động ngành nghề nông thôn thực tế tại tỉnh Lâm Đồng chưa có quy định cụ thể như: sản xuất - kinh doanh rau, hoa truyền thống; sản xuất nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn.

UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương lập hồ sơ đề nghị công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống theo tiêu chí quy định là rất khó mà phải là cấp xã, phường, thị trấn vì đây là cấp cơ sở sâu sát và nắm rõ hoạt động của các cơ sở ngành nghề, làng nghề.

Chưa có quy định cụ thể về mặt bằng sản xuất, đầu tư, tín dụng nên khó thực hiện.

Không hỗ trợ các cơ sở ngành nghề, làng nghề tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng hệ thống tem truy xuất nguồn gốc, trong khi hoạt động này rất cần thiết để đưa sản phẩm ra thị trường.

Chưa có các hướng dẫn chi tiết về xây dựng dự án phát triển ngành nghề nông thôn từ ngân sách Trung ương; mức hỗ trợ tối đa không quá 500 triệu đồng/dự án là còn thấp; không hỗ trợ khảo sát, học tập kinh nghiệm về phát triển ngành nghề nông thôn tại các địa phương trong nước.

Phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề ở địa phương vẫn còn mang tính tự phát; thiếu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ và trang thiết bị tiên tiến phục vụ sản xuất. Chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ để bảo tồn và phát triển.

Trình độ quản lý, kinh nghiệm trong kinh doanh của chủ cơ sở sản xuất còn yếu, chưa đáp ứng nhu cầu hiện nay; thiếu nguồn nhân lực có tay nghề; chưa mạnh dạn đầu tư nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thực tiễn; chủ yếu là loại hình kinh tế hộ gia đình, quy mô nhỏ, sức cạnh tranh trên thị trường yếu.

Việc giữ gìn, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc trong sản phẩm truyền thống chưa được coi trọng.

Tiềm năng du lịch thông qua việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống chưa được khai thác.

Các sản phẩm mây, tre đan khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ; giá bán còn thấp, chưa ổn định; nguồn nguyên liệu cung ứng từ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt; chủng loại, mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng; mức độ tinh xảo chưa cao; chất lượng không đồng đều.

Chưa có sự hỗ trợ hợp lý của Nhà nước trong công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng và tiêu thụ sản phẩm.

Chưa gắn kết việc đào tạo nghề với sử dụng lao động sau khi học nghề.

Các làng nghề, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, hộ sản xuất - kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ các ngân hàng thương mại do phải có tài sản thế chấp, thủ tục rườm rà, thời hạn cho vay ngắn...

Một số giải pháp phát triển ngành nghề trong thời gian tới

Khai thác và phát huy lợi thế so sánh của các sản phẩm ngành nghề, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Phát triển trên cơ sở đổi mới thiết bị, công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số ngành và sản phẩm công nghiệp. Phát triển ngành nghề gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và dịch vụ, du lịch.

Tăng cường tuyên truyền, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.

Cần tập trung phát triển các ngành hàng mang tính chủ lực của địa phương như công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm sạch, chất lượng cao; công nghiệp may đan và các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp mang đậm bản sắc văn hóa phục vụ phát triển du lịch; chế biến và đan lát tre, nứa, song mây; dệt thổ cẩm, đan len, sản xuất và chế biến đồ gỗ dân dụng, gỗ cao cấp, gỗ mỹ nghệ; trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa tại các huyện phía Nam.

Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tập trung vào các ngành nghề mũi nhọn cần ưu tiên như trồng hoa, dệt thổ cẩm, mây tre đan xuất khẩu, đồ gỗ dân dụng, đồ thủ công mỹ nghệ… Chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống như rèn thủ công, cơ khí, gốm… Khuyến khích mở rộng các ngành nghề mới tại địa phương như sinh vật cảnh, thêu ren - móc sợi…

Phát triển làng nghề trên cơ sở kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại. Bảo tổn và khôi phục các làng nghề truyền thống lâu đời, hình thành và phát triển nhanh làng nghề mới, xây dựng thử nghiệm một số làng nghề điển hình thành làng nghề văn hóa và du lịch.

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh hàm lượng công nghệ, giảm tiêu hao năng lượng, vật tư, nguyên liệu trong sản phẩm.

Khai thác tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước. Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Khuyến khích đầu tư mạnh mẽ vào các địa bàn kinh tế trọng điểm. Hỗ trợ đầu tư nhiều hơn cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm phát triển thị trường. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư để phát triển các làng nghề.

Tổ chức và tham gia các hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm ở trong nước và quốc tế, đăng ký thương hiệu, mẫu mã, bao bì, chất lượng sản phẩm... Thành lập các hội làng nghề, tăng cường quản lý thị trường.

Bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng môi trường đầu tư tỉnh ngày càng thân thiện, minh bạch, thông thoáng và ổn định để thu hút các nguồn vốn bên ngoài; đồng thời, thực hiện các giải pháp bảo đảm đầu tư giúp các doanh nghiệp trong tỉnh duy trì và phát triển sản xuất ở các làng nghề.

Tập huấn, đào tạo truyền nghề, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu. Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn để thực hiện việc phát triển các làng nghề gắn tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Đẩy mạnh công tác cấp Giấy công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống cho các cơ sở.

Số 3/2020

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML

THƯ VIỆN VIDEO VÀ HÌNH ẢNH

VIDEO

 HÌNH ẢNH


HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 35/2020 - 28/09/2020
Số 35/2020 Xem thêm
Số 34/2020 - 28/09/2020
Số 33/2020 - 28/09/2020
Số 32/2020 - 10/09/2020
Số 31/2020 - 10/09/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 6.464.042
  • Đang online: 2.885
  • Trong tuần: 23.567
  • Trong tháng: 91.159
  • Trong năm: 1.579.013