Tư liệu
Rừng Lâm Đồng
Du lịch Lâm Đồng
Du lịch
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
2008
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Lâm Đồng có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 676.236 ha. Đặc điểm quan trọng nhất của sự phân bố tài nguyên rừng ở Lâm Đồng là sự phát triển cảnh quan rừng thông thuần loại trên những khu vực rất rộng lớn, lớn hơn bất kỳ vùng nào trên đất nước ta, đã tạo nên một nét riêng cho mảnh đất cao nguyên này. Chính nó đã tạo ra cho địa phương thế mạnh phát triển du lịch núi, du lịch sinh thái. Ngoài ra, Lâm Đồng còn có Vườn quốc gia Bi Đúp - Núi Bà và một phần Vườn quốc gia Cát Tiên.

RỪNG THÔNG ĐÀ LẠT

Từ lâu, nhiều người đã biết đến Đà Lạt qua các sản phẩm: rau hoa Đà Lạt và du lịch Đà Lạt. Ai chưa có dịp đến Đà Lạt cũng hình dung thành phố này có nhiều biệt thự xinh đẹp, có khí hậu mát mẻ quanh năm với nhiều danh thắng, phong cảnh nổi tiếng, bao quanh là rừng thông trùng điệp.

Rừng thông Đà Lạt giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn hệ thống sông ngòi, hồ đập thuỷ lợi, thuỷ điện: hồ Suối Vàng, Tuyền Lâm, Đa Nhim, Đại Ninh,… Rừng thông bảo vệ môi trường sống, duy trì ổn định, cân bằng sinh thái. Một ha rừng thông trong 1 năm sản xuất được 5 - 7 tấn oxy, làm trong sạch 18 triệu m3 không khí, giữ lại 30 - 70 tấn bụi và hấp thụ 3 - 7 tấn CO2.

Trước 1990, rừng thông Đà Lạt hàng năm vẫn khai thác 30 - 50.000 m3 sản phẩm gỗ thông các loại và 1.500 - 2.000 tấn nhựa thông. Từ 1990, nhiệm vụ chính của các đơn vị quản lý rừng ở đây là: trồng, bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, làm giàu rừng. Gần 10 năm qua, khu vực này đã trồng được hơn 5.000 ha. Trên địa bàn huyện Lạc Dương, thành phố Đà Lạt, diện tích đất trống lâm nghiệp cơ bản đã được trồng hết. Trong công việc tỉa thưa, nuôi dưỡng, vệ sinh rừng, sản phẩm gỗ thông lấy ra được dùng trong xây dựng, là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp: điện, sơn, giấy, hóa chất, dược, cao su, mỹ nghệ.

Thông được chọn làm cây trồng phủ xanh đất trống trên vùng núi cao trung bình có khí hậu á nhiệt đới, mọc được ở nơi đất cằn xấu. Nếu đủ nguồn giống, thông có khả năng tái sinh mạnh mẽ nơi đất được dọn sạch và tầng đất mặt tơi xốp, và phòng giữ được lửa cháy trong giai đoạn cây non. Chi phí tái sinh tự nhiên chỉ bằng ½ chi phí trồng rừng. Tái sinh tự nhiên thuận lợi cho rừng thông thuộc đối tượng phòng hộ, đặc dụng.

Trung tâm phân bố rừng thông Đà Lạt có độ cao trung bình 1.200 m so với mặt biển, nhưng vì cách biển 80 km, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất chỉ 16 - 20oC, thuộc khí hậu vùng á nhiệt đới. Biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm trung bình là 9oC. Đà Lạt có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 83,8%, các tháng trong mùa mưa độ ẩm trung bình 85%, trong 3 tháng: 1, 2, 3 mùa khô, độ ẩm dưới 80%, nhưng không tháng nào dưới 75%. Trong năm có khoảng 80 ngày có sương mù, tập trung vào các tháng 2, 3, 4, 5. Khí hậu Đà Lạt ôn hòa, mát mẻ quanh năm thuận lợi cho khách du lịch.

Hồ Dankia và hồ Tuyền Lâm nằm trong 79 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia nhằm mục đích bảo tồn loài chim nước quý hiếm và các loài cá nước ngọt cao nguyên Đà Lạt.

Rừng thông Đà Lạt bao trùm hầu khắp cao nguyên Lang Biang gồm thành phố Đà Lạt, huyện Lạc Dương, Đam Rông, một phần huyện Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà. Phần còn lại, trên các đỉnh núi cao và ven khe là rừng lá rộng hỗn giao nhiều loài.

Việt Nam có 6 loài thông tự nhiên thì rừng thông Đà Lạt có 5 loài: thông 3 lá, thông 2 lá, thông 5 lá, thông 2 lá dẹp, thông tô hạp thuộc họ Thông (Pinaceae); thông đỏ thuộc họ Thanh tùng (Taxaceae); trong đó thông 2 lá dẹp là loài đặc hữu hẹp và rất hiếm.

Rừng thông Đà Lạt có diện tích khoảng hơn 100.000 ha, hơn 90% là thông 3 lá mọc thuần loại. Các loài thông còn lại mọc hỗn giao với thông 3 lá hay cây lá rộng như dầu trà beng, kháo, giẻ,…

THÔNG 3 LÁ

Tên khoa học: Pinus kesiya Royle ex Gordon, thuộc họ Pinaceae (Thông).

Đặc điểm: Thông 3 lá (ngo ba lá) là cây gỗ cao 30 m, đường kính thân 0,8 m. Vỏ dầy, nứt dọc thân sâu đến 2 cm, màu nâu. Lá màu lục sẫm, dài đến 20 cm, rộng 0,5 - 1 mm, có 3 lá hình kim mọc chụm trong một bẹ của chồi rút ngắn. Nón cái hình chóp dài 5 - 8 cm, rộng 4 - 5 cm. Nón đực thường tập trung phía đầu cành thành cụm. Nón đực dài 1 cm, rộng 0,5 cm. Hạt màu nâu có cánh, dài 1,8 cm. Nón ra vào tháng 2, 3 và chín vào tháng 11, 12 cách 1 năm sau.

Phân bố: Cây mọc ở độ cao 900 - 1.600 m, phân bố chủ yếu ở: Đà Lạt, Đơn Dương, Lạc Dương.

THÔNG 2 LÁ

Tên khoa học: Pinus merkusii Jungh et Vriese, thuộc họ Pinaceae (Thông).

Đặc điểm: Thông 2 lá (thông nhựa) là cây gỗ cao 30 m, đường kính thân 0,7 m. Vỏ dày, màu nâu, nứt dọc và sâu. Lá màu lục sẫm, dài 15 - 25 cm, hai lá kim trên một chồi rút ngắn, có bẹ dài 1 cm bao lại. Nón cái hình trứng, màu nâu đỏ, dài 5 - 8 cm, rộng 4 - 6 cm. Nón đực dài 1 cm, rộng 0,5 cm. Hạt hình trái xoan hơi dẹp, có cánh mỏng dài 1,5 cm. Nón xuất hiện vào tháng 5, 6 và chín vào tháng 3, 4 cách 1 năm sau.

Phân bố: Cây mọc ở độ cao 400 - 600 m (có thể mở rộng lên cao tới 1.500 m), chủ yếu ở Di Linh, Bảo Lộc, Đơn Dương, Đức Trọng và một ít ở Đà Lạt (Tà Nung).

THÔNG 5 LÁ

Tên khoa học: Pinus dalatensis Ferre, thuộc họ Pinaceae (Thông).

Đặc điểm: Thông 5 lá (thông Đà Lạt) là cây gỗ cao tới 3 5m, đường kính thân 3 m, cành mảnh, tán thưa. Vỏ màu nâu sẫm, bong từng mảng. Lá mảnh dài 12 cm, rộng 0,5 - 0,7 mm, có 5 lá trong một chồi rút ngắn ; bẹ lá màu nâu, dài 0,7 cm, bẹ lá sớm rụng. Nón cái hình trứng màu nâu xám, dài 4 - 6 cm, rộng 3 - 4 cm. Nón xuất hiện vào tháng 2, 3, 4 và chín vào tháng 7, 8, 9 cách 1 năm sau. Hạt hình bầu dục, có cánh mỏng dài 2,5 cm

Phân bố: Cây mọc ở độ cao 1.400 - 2.500 m, phân bố chủ yếu ở: Vườn quốc gia Bi Đúp - Núi Bà (Cổng Trời, Bi Đúp, Klong Klanh), Đơn Dương và một ít ở Đà Lạt (thác Uyên Ương).

THÔNG 2 LÁ DẸP

Tên khoa học: Ducampopinus krempfii A.Chev., thuộc họ Pinaceae (Thông).

Đặc điểm: Thông 2 lá dẹp là cây gỗ cao 40 m, đường kính thân đến 2 m. Vỏ màu nâu nhạt, ít nứt nẻ. Lá lúc non được bao bởi 5 vảy mỏng màu nâu, sau đó rụng dần chỉ còn 2 vảy, để lại các vết sẹo. Hai lá dẹp dạng bản hình lưỡi mác trên 1 chồi rút ngắn. Lá dài 4 - 6 cm, rộng 3 - 4 mm, hai mặt trên. Nón hình trứng, màu nâu, dài 5 - 6 cm, rộng 3 - 5 cm. Hạt có cánh, dài 1,8 cm.

Phân bố: Cây mọc ở độ cao trên 1.600 - 1.700 m, phân bố chủ yếu ở : Vườn quốc gia Bi Đúp - Núi Bà (Cổng Trời, Bi Đúp, Klong Klanh), Đơn Dương và một ít ở gần khu vực Hồ Suối Vàng.

THÔNG TÔ HẠP

Tên khoa học: Keteleeria roulletii (Chev.) Flous, thuộc họ Pinaceae (Thông).

Đặc điểm: Thông tô hạp (ngo tùng, du sam) là cây gỗ cao đến 40 m, đường kính thân tới 2 m. Vỏ màu xám nứt dọc không sâu. Lá dẹp dạng bản hình lưỡi mác, dài 2,5 - 5 cm, rộng 0,3 - 0,4 cm mọc từng chiếc trên cành. Nón đực và nón cái mọc ở đầu cành. Nón cái hình trụ dài 12 - 20 cm, rộng 6 - 8 cm, luôn mọc thẳng đứng lên trời. Hạt có cành, dài 1,4 - 1,6 cm.

Phân bố: Cây mọc ở độ cao 800 - 1.700 m, thường mọc xen kẽ với thông 3 lá và cây lá rộng,

phân bố rộng ở: Đà Lạt, Đơn Dương, Lạc Dương, Đức Trọng, Lâm Hà.

THÔNG ĐỎ

Tên khoa học: Taxus wallichianus Zucc., thuộc họ Taxaceae (Thanh tùng).

Đặc điểm: Thông đỏ là cây gỗ cao đến 30 m, đường kính gốc 1,5 m. Vỏ ngoài màu nâu vàng hay nâu đỏ, nứt dọc, mặt trong có màu hồng nhạt. Lá mọc cách xếp hai dãy trên cùng mặt phẳng, mặt trên màu lục sẫm có gân giữa nổi, mặt dưới màu xanh vàng. Lá dài 2 - 3,5 cm, rộng 0,2 - 0,3 cm, cành mang lá có dạng lông chim. Nón cái thường đơn độc, mang một noãn đứng thẳng. Nón đực mọc ở nách lá, hình cầu hay trứng màu vàng lục. Quả hạch hình trứng có màu đỏ khi chín.

Phân bố: Cây mọc ở độ cao 1.600 - 1.800 m theo từng đám nhỏ, với diện tích từ vài ha đến dưới 10 ha, số cá thể trong từng đám biến động từ 2 - 5 - 20 - 30 cá thể. Thông đỏ có ở Xuân Trường (Đà Lạt); vùng giáp ranh Đà Lạt - Nha Trang; Núi Voi (Đức Trọng); Cổng Trời (Lạc Dương).

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây