Tư liệu
Văn hóa du lịch
Du lịch Lâm Đồng
Du lịch
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
2008
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Văn hóa du lịch là một hoạt động mang tính hưởng thụ, tìm hiểu, khám phá và nghiên cứu của du khách; đồng thời là một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội, một khi chất lượng cuộc sống ngày một được cải thịên và nâng lên không ngừng. Khai thác vốn di sản văn hóa truyền thống và lịch sử đưa vào phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế du lịch (hay nói cách khác là gắn văn hóa với du lịch, đảm bảo các hoạt động du lịch có văn hóa) là một hướng đi đúng, giúp cho du lịch phát triển ổn định, bền vững. Đây là xu thế tích cực đã được khai thác rất hiệu quả đối với các nước trên thế giới hiện nay đang được ngành du lịch Việt Nam triển khai tích cực ở nhiều địa phương trong cả nước.

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ LỊCH SỬ

Di sản văn hóa truyền thống và lịch sử do con người làm ra và lưu lại là tài sản quý giá có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ trong công cuộc dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Trong kho tàng di sản văn hóa truyền thống và lịch sử, lễ hội là một bộ phận hết sức quan trọng; lễ hội truyền thống và lịch sử thuộc về loại hình di sản văn hóa phi vật thể, nhưng để hiểu biết, cảm thụ lễ hội phải được thông qua các hình thức vật thể hoá lễ hội (như diễn xướng, in ấn, hội họa, trang phục, đạo cụ,…), gắn với thời gian và không gian diễn ra lễ hội. Chính vì thế, dù lễ hội truyền thống hay lịch sử, cổ truyền hay hiện đại, nó vẫn mang tính quần chúng, tính cộng cảm và giao lưu rất đậm nét. Từ đặc tính này, người ta đã gắn hoạt động lễ hội với du lịch, tham dự lễ hội là đi du lịch.

Lâm Đồng là tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên, được thiên nhiên ưu đãi, đã trở thành điểm đến khá hấp dẫn của khách thập phương. Từ ưu thế này, chính quyền tỉnh Lâm Đồng đã tập trung phát triển kinh tế du lịch, coi hoạt động du lịch là mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân của tỉnh. Lâm Đồng lại là tỉnh có thành phần dân cư dân tộc khá đa dạng với trên 40 dân tộc. Tính đa dạng về sắc tộc và thành phần dân cư đã mang lại cho tỉnh Lâm Đồng vốn tài sản lễ hội truyền thống rất phong phú, trước hết phải kể đến lễ hội truyền thống các dân tộc bản địa Lâm Đồng.

Lễ hội truyền thống dân tộc Kơho

Trong 3 dân tộc bản địa Lâm Đồng, người Kơho có số dân đông hơn cả (khoảng 112.926 người), sống hầu hết trên các địa bàn dân cư tỉnh Lâm Đồng. Người Kơho gồm nhiều nhánh tộc, từng nhánh tộc có địa bàn cư trú và một vài đặc điểm sinh hoạt riêng:

- Kơho Srê,Kơho K’Yôn,Kơho chiếm số người đông nhất, sống tập trung ở một số xã của huyện Di Linh.

- Kơho Chil,Kơho Lạch sinh sống ở một số xã thuộc huyện Lạc Dương, Đơn Dương, Lâm Hà, Đức Trọng, Đam Rông và một số nhỏ sống ở vùng phụ cận thành phố Đà Lạt.

Là một cư dân nông nghiệp canh tác ruộng nước và rẫy, tín ngưỡng đa thần, nghi lễ nông nghiệp theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa, nghi lễ nông nghiệp của người Kơho trồng lúa nước gồm:

+ Lễ cúng gieo lúa hay sạ hạt (Nhô sih srê) được thực hiện ngay tại ruộng của từng gia đình, lễ vật hiến sinh là gà hoặc vịt.

+ Lễ rửa chân trâu (Nhô rao jơng rơpu) được tổ chức ngay sau khi gieo hạt lúa xong khoảng một tháng. Nghi lễ này được tổ chức tại gia đình, vật hiến tế thường là gà hoặc vịt để mong thần linh (Yàng) phù hộ cho cả người và súc vật được khoẻ mạnh, bình an; đồng thời biểu lộ tình cảm của con người với con vật đã gần gũi, gắn bó, vất vả trong suốt thời vụ cày bừa, gieo hạt.

+ Tiếp đó là cúng lúa đã xanh tốt trổ bông (Nhô kép) và khi lúa chín (Nhô tốt đồng). Từng nhà cúng tại ruộng của mình, vật hiến tế là gà hoặc vịt.

+ Nghi lễ cuối cùng là lúc lúa đã vào kho, cúng kho thóc (Nhô lir bong), kết thúc một mùa lúa, lễ hội ăn mừng, nghỉ ngơi. Đây là lễ hội quan trọng nhất trong năm. Lễ hội được chủ nhà quyết định thời gian, sự chuẩn bị cho lễ hội khá chu đáo, lễ hội được diễn ra trong nhiều nhà, hết nhà này đến nhà khác. Đây là lễ cuối cùng và cũng là lễ lớn hơn cả, được diễn ra tại nhà già làng. Lễ vật lúc này (tuỳ điều kiện từng nhà) có thể là heo, dê hoặc trâu. Nghi lễ được diễn ra nghiêm ngặt: từ lễ hạ chiêng (Nhô dah cing sơngơr), chọn cây làm nêu, dọn dẹp sửa sang nhà cửa, giã gạo, xúc cá, hái rau, gói bánh, rượu cần, đón trâu, cột trâu, đâm trâu, cúng thần lúa, ăn uống linh đình, múa hát tạ ơn thần linh. Sau 3 ngày làm lễ hạ nêu, sau 7 ngày diễn ra lễ ăn dê, kết thúc lễ mừng lúa mới.

Tương tự như nhánh tộc Kơho Srê trồng lúa nước, họ tộc Kơho Chil, Lạch phát nương làm rẫy cũng có nghi thức lễ hội theo chu kỳ cây lúa nước hoặc cây bắp. Mở đầu là lễ cúng phát rẫy (Kơn ràk chi), sau đó là lễ đốt rẫy, tỉa hạt (Rnuat ồs) được thực hiện tại rẫy, cho từng gia đình. Vật cúng tế thường là gà, vịt, rượu cần. Trong thời gian cúng rẫy mọi người không đi ra khỏi bon 7 ngày đêm.

Khi lúa (hoặc bắp) đã xanh tốt, trổ bông, lễ cúng được thực hiện, cầu mong cho lúa, bắp trĩu bông, nặng hạt, không bị sâu bọ, thú rừng phá hoại. Lễ được tiến hành chung trong bon bằng heo, dê hay trâu, do già làng chủ lễ, sau đó tuỳ từng nhà cúng gà hay vịt, mọi người nghỉ ngơi, kiêng kỵ 7 ngày không đi ra khỏi bon.

Khi lúa, bắp đã về nhà (vào kho), lễ cúng thần lúa (thần bắp) được tiến hành. Đây là lễ quan trọng nhất được già làng hành lễ, vật hiến tế thần là trâu, gà, lợn, dê, cả bon ăn chơi, kiêng không đi ra khỏi làng trong 7 ngày.

Lễ hội truyền thống dân tộc Mạ

Người Mạ cũng có nhiều nhánh tộc: Mạ Kray, Mạ Sộp, Mạ Tô, Mạ Ngăn. Họ sinh sống chủ yếu ở một số xã thuộc các huyện : Đạ Huoai, Di Linh, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lộc. Người Mạ có số dân là 25.319 người.

Cũng như người Kơho, lễ nghi người Mạ cũng được tiến hành trong năm theo chu kỳ cây trồng (lúa, bắp), cây lúa là cây lương thực chính. Nghi lễ được diễn ra từ khi phát rẫy gieo hạt, lúa tốt trổ bông, đến khi thu hoạch (thóc đã về kho), cụ thể là:

+ Lễ ăn rừng (sa brê): Lễ được diễn ra tại khu rừng được chọn để phát rẫy. Lễ vật cúng là gà, dê, heo, vịt (tuỳ theo), nhưng cúng vật gì, đến khi du canh trở lại phải cúng rừng đúng vật đó. Mục đích của lễ là xin Yàng cho được phát rẩy nhanh chóng, thuận lợi. Sau lễ cúng 3 ngày mới tiến hành phát rẫy.

+ Lễ đốt rẫy (Nhô sa ding bar): Lễ vật là một choé rượu, một con gà hoặc vịt do chủ rẫy tiến hành cúng tại rẫy.

+ Lễ tỉa hạt (Nhô tăm snum): Lễ cúng tại rẫy trước khi tỉa hạt, do chủ rẫy và già làng tiến hành. Vật cúng là một con gà, vịt, một chóe rượu cần.

+ Lễ cúng lúa đã xanh tốt (Nhô kèp) và cuối cùng là lễ cúng lúa mới (Nhô nhe) khi lúa, bắp đã về kho. Đây là lễ trọng, thường tổ chức linh đình, kéo dài ngày, có ăn trâu, dê, heo. Nghi thức lễ hội diễn ra khá nghiêm ngặt theo luật tục người Mạ, có diễn ra múa hát, cồng chiêng rất vui vẻ.

Lễ hội truyền thống người Chu Ru

Người Chu Ru được xếp vào nhóm các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo - Polynesian (Mã Lai - Đa Đảo). So với người Kơho và người Mạ, người Chu Ru có số dân ít hơn cả (14.585 người). Họ sống tập trung ở một số xã thuộc huyện Đơn Dương và phía đông nam huyện Đức Trọng. Do chung sống lâu đời với người Kơho nên người Chu Ru cũng sử dụng được tiếng nói và chữ viết của người Kơho, nhưng lễ nghi, phong tục truyền thống của người Chu Ru có nét riêng biệt. Cư dân Chu Ru chuyên trồng lúa nước, lễ nghi nông nghiệp cũng theo chu kỳ cây lúa.

Lễ cúng đầu mùa (Mơ nhum ngã war): Vào đầu mùa mưa (tháng 3, tháng 4 âm lịch) khi chủ nhà đã chọn được ngày cày ruộng, tổ chức lễ cúng đầu mùa tại nhà mình, người cúng (Bơdâu) có thể là chủ nhà hoặc mời thầy cúng. Lời cúng cầu xin Yàng cho một mùa mưa thuận gió hoà. Lễ vật cúng gồm một choé rượu, một con gà (vịt), cơm và trái cây.

Lễ cúng gieo hạt (Mơ nhum pơleh drà): Trước ngày gieo hạt, chủ nhà đem lễ vật ra ruộng (lễ vật như cúng đầu mùa), chủ nhà xin Yàng cho lúa lên đều, xanh tốt, không bị côn trùng phá hoại.

Lễ rửa chân trâu (Mơ nhum rao tơkai kbào): Lễ này cũng như lễ rửa chân trâu của người Kơho Srê, nhưng lễ vật có khác: một chóe rượu, nải chuối chín, hai con gà, một đĩa xôi và đặc biệt phải có một con rùa. Lễ cúng được thực hiện vào lúc chiều tối (khi trâu đã về chuồng), cúng trước sân nhà, xin Yàng cho trâu béo khoẻ để chuẩn bị cho vụ tới.

Lễ mừng lúa trổ bông (Mơ nhum nơtơ jam bơdai): Khi lúa đã trổ đòng, gia chủ chuẩn bị một số trái cây có vị chua, rượu cần, gà (vịt),… cúng tại ruộng (hoặc tại nhà), thời gian hành lễ phải vào ngày trăng sáng. 
Lễ cúng mừng lúa chín (Mơ nhum bok koh) tổ chức tại ruộng trước khi gặt lúa. Lễ vật gồm choé rượu, nải chuối chín, gà (vịt) hoặc heo, dê, ngựa,… lớn nhất là trâu.

Lễ cúng mừng lúa mới (Mơ nhum hơ ma): Khi lúa đã về kho, như người Kơho, Mạ, người Chu Ru tiến hành lễ hội ăn mừng lúa mới. Đây là lễ cúng lớn nhất của người Chu Ru theo nghi thức nông nghiệp, có ăn uống, nhảy múa, nghỉ ngơi 5 đến 7 ngày.

Ngoài nghi lễ nông nghiệp theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa, dân tộc Kơho, Mạ và Chu Ru còn có một số nghi lễ vòng đời khá độc đáo. Người Kơho, Mạ có những lễ nghi vòng đời giống nhau, một số chi tiết thể hiện cho từng nghi lễ có khác nhau một chút nhưng không đáng kể.

Nghi thức đặt tên cho con (Nhô sơnđan mat kon) được thực hiện trong nhà, khi đứa trẻ mới sinh ra đã được 5 hoặc 7 ngày. Lễ được tổ chức vào buổi sáng, khi mặt trời đã lan toả khắp vùng. Trình tự lễ được thực hiện nghiêm ngặt theo phong tục cổ truyền.

Nghi thức cà răng - căng tai là tục lệ bắt buộc của người Kơho, Mạ đối với nam, nữ đã đến tuổi 13 - 15, nếu ai không cà răng - căng tai thì không thể lấy vợ, lấy chồng. Nghi thức được tiến hành trong nhà, mời thầy cúng làm lễ và tiến hành cà răng - căng tai theo nghi thức cổ truyền. Nghi lễ đoàn kết cộng đồng (Măng nhô) là lễ hội có quy mô lớn nhất của người Kơho, Mạ; lễ được tổ chức theo chu kỳ 10 - 15 năm (có khi đến 20 - 30 năm, tuỳ theo điều kiện địa phương). Đây thực sự là ngày hội lớn của tất cả cộng đồng, được dân trong bon tự nguyện đóng góp vật chất và công sức để làm lễ, theo tộc họ đều phải đóng góp trâu, rượu, gạo, thịt rừng, cá suối, rau rừng. Đây là nghi lễ tạ ơn thần núi (Yàng Bnơm), đã giúp đỡ dân làng làm ăn phát triển, lễ chính được diễn ra 3 ngày, mọi người ăn uống, vui chơi đến 5, 7 ngày. Trong nghi lễ vòng đời, ngoài lễ đặt tên con (như người Kơho, Mạ), người Chu Ru có lễ bỏ mả (Bơthi kut). Đây là lễ thức quan trọng nhất để đánh dấu việc xoá bỏ những kiêng cữ trong gia đình, dòng tộc trong suốt thời gian chưa tiến hành làm lễ bỏ mả. Lễ được thực hiện tại một gia đình lớn hay một dòng tộc, lễ hội vui rộn ràng với chiêng, trống, khèn bầu,… Nghi lễ được diễn ra sau mùa thu hoạch của những gia đình, họ tộc đã chuẩn bị đủ các điều kiện (hoặc gặp được mùa màng bội thu), có mộ chôn chung đã có nhiều ma (nhiều người chết cùng chôn một mộ, theo thứ tự từ dưới lên trên), cũng có khi tới trên 20 ma, phải là các ma chết gần nhất là 3 năm. Nghi thức lễ bỏ mả được thực hiện theo nghi thức cổ truyền của người Chu Ru.

Ngoài lễ bỏ mả là lễ trọng, người Chu Ru còn có lễ hội đền được diễn ra hàng năm. Đây là lễ hội có tính cộng cảm cao ở cộng đồng dân cư, được mọi người dân Chu Ru trong vùng (nhiều tộc họ, nhiều buôn) hưởng ứng. Đền người Chu Ru thờ thần (nhân thần) người có công giúp đỡ dân làng, trong đó có lẽ quan trọng hơn cả là nghi lễ cúng thần đập nước (Yàng Bơmung) vào tháng 2 hàng năm. Đây thực sự là lễ hội làng rất phong phú và độc đáo, cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu.

Lễ hội của các dân tộc khác

Trên quê hương Lâm Đồng, hàng năm còn diễn ra một số lễ hội truyền thống của các dân tộc khác đến ngụ cư đã lâu tại các địa phương trong tỉnh như :

Lễ hội đình, đền diễn ra vào mùa xuân (tháng giêng, tháng 2 âm lịch hàng năm). Đình làng được các cư dân miền Bắc, miền Trung xây dựng từ lâu đời, thờ thần hoàng, người có công với nhân dân địa phương hoặc vị anh hùng dân tộc được tôn vinh. Lễ hội được thực hiện khá quy củ và nề nếp, đặc biệt là lễ giỗ tổ Hùng Vương tại các đền ở Đà Lạt, Bảo Lộc, Di Linh,… lễ hội Hai Bà Trưng tại xã Mê Linh (huyện Lâm Hà). 
Lễ hội thác gắn với các truyền thuyết về hồ, thác và phong cảnh thiên nhiên, được các nhà quản lý di tích thắng cảnh khai thác, đưa vào tổ chức phục vụ du khách. Tiêu biểu là lễ hội rằm tháng giêng âm lịch tại thác Pongour (Đức Trọng); lễ hội múa xoè, múa sạp của dân tộc Thái tại thác Gougah (Đức Trọng); “Âm vang cồng chiêng” của dân tộc Mạ tại thác Damb’ri (thị xã Bảo Lộc),…

Lễ hội lịch sử kỷ niệm các ngày lịch sử truyền thống trong năm (năm chẵn); lễ hội Hoa Đà Lạt, lễ hội trà đã và đang được các cấp chính quyền tỉnh Lâm Đồng quan tâm khai thác, nâng cao tầm cỡ và chất lượng hoạt động phục vụ nhân dân và thu hút sự chú ý của du khách.

Tóm lại, với đặc điểm dân cư, dân tộc và đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tỉnh Lâm Đồng đã và đang là một quê hương của lễ hội truyền thống và lịch sử rất phong phú, đa dạng, đang được khai thác, bảo tồn, phát huy vào mục đích phát triển kinh tế 0 xã hội tỉnh nhà ngày một ổn định, bền vững.

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây