hội thảo khoa học
Một số thông tin về hiện trạng và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm Hồ Xuân Hương 10/04/2012 In trang

Hồ Xuân Hương là thắng cảnh cấp quốc gia, là địa danh nổi tiếng và còn là địa điểm tham quan du lịch khá hấp dẫn tạo nên nét đặc sắc cho Đà Lạt. Từ năm 2005 đến nay, hiện tượng tảo phát triển mạnh hay còn gọi là tảo nở hoa đã xuất hiện với tầng suất ngày càng nhiều tại hồ Xuân Hương ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và cũng như cảnh quan và du lịch của thành phố. Phần lớn các đợt tảo nở hoa rơi vào các tháng cuối mùa khô (tháng 11, 12 năm trước đến tháng 1,2,3 năm sau) và phát triển mạnh nhất là những thời điểm thay đổi nền nhiệt từ cao xuống thấp, nắng nhẹ và nắng gián đọan bức xạ mặt trời thấp, không có gió hoặc gió nhẹ; thứ đến là xuất hiện sau những cơn mưa đầu mùa; đây là kỳ cao điểm để tảo phát triển

Khác với những hồ khác, hồ Xuân Hương không phải là hồ nước đọng, nó có dòng chảy và nước thường xuyên được cung cấp, thay đổi. Hồ có dung tích  0,72 triệu m3, diện tích mặt hồ 32 ha, dòng chảy trung bình nhiều năm: Qo = 0,7 m3/s, tổng lượng nước đến bình quân hàng năm Wo = 22,09 triệu m3. Chu vi hồ Xuân Hương trên 5,5 km. Trong lòng hồ, hiện tượng chảy dòng trên bề mặt mạnh hơn ở đáy hồ.

Các nhánh suối đổ vào hồ Xuân Hương vào mùa mưa, như các cơn lũ, mang theo một lượng nước rất lớn cùng nhiều rác, bùn đất và các chất ô nhiễm khác đổ vào hồ.

Trên các nhánh suối đổ vào hồ Xuân Hương đã xây dựng 4 hồ nhỏ để lắng đọng bùn đất và chắn rác trước khi vào hồ chính và được định kỳ nạo vét gồm các hồ sau:

- Hồ số 1 được xây dựng trên nhánh suối Cam Ly phía trên cầu Sắt hiện nay với diện tích mặt hồ là 2 ha, dung tích chứa 60.000 m3.

- Hồ số 2 được xây dựng trên nhánh suối ấp Hồng Lạc tại vị trí giữa đoạn đầu đường Yersin và Phạm Hồng Thái với diện tích mặt hồ là 5 ha, dung tích chứa 30.000 m3.

- Hồ số 3 được xây dựng trên nhánh suối đường Bùi thị Xuân, hồ Đội Có với diện tích mặt hồ là 1,5 ha, dung tích chứa 30.000 m3.

- Hồ số 4 được xây dựng trên nhánh suối ấp Đa Thiện phía sau Công viên hoa của thành phố với diện tích mặt hồ là 1,2 ha dung tích chứa 25.000 m3.

1. Một số nguồn gây ô nhiễm chính cho hồ Xuân Hương:

Hồ Xuân Hương tiếp nhận nước từ các nguồn chính, là các hồ lắng số 1; 2;3 và 4, đây là nguồn cung cấp nước đầu vào chủ yếu nhất của hồ, bắt nguồn từ các con suối, là nguồn nước tưới tiêu cho các vườn rau xung quanh đồng thời là nơi tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt của các hộ dân sống trong khu vực

Ngoài ra, hồ còn tiếp nhận các nguồn nước khác, nhất là vào mùa mưa của  khu vực Đồi Cù; cống xả bên cạnh hồ phía đường Bà Huyện Thanh Quan; cống nhỏ gần nhà hàng Thủy Tạ và cống nhỏ trước Quảng trường thành phố.

- Chất thải sinh hoạt: các mương suối trong tòan bộ lưu vực hồ Xuân Hương thường chảy qua các khu dân cư trước khi đổ vào hồ. Phần lớn nước thải sinh hoạt chưa xử lý hoặc mới chỉ xử lý sơ bộ qua hầm tự hoại nên hàm lượng các ô nhiễm hữu cơ và chất dinh dưỡng rất cao. Chất thải rắn sinh hoạt trong vùng lưu vực chưa được quản lý tốt, nhiều điểm đổ rác gần mương suối được hình thành tự phát. Rác bị vứt thẳng xuống mương suối gây ô nhiễm và cản trở dòng chảy.

- Chất thải làm vườn, sản xuất nông nghiệp: Các khu vực có nguồn thải từ hoạt động nông nghiệp tập trung chủ yếu ở các phường 8, 9,10, 11. Chất thải từ hoạt động nông nghiệp là các dư lượng của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và phụ phế phẩm sau khi thu hoạch, thường tập trung sát bờ mương suối thành đống, thậm chí đổ thẳng xuống suối. Một số bao bì và chai lọ thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng chưa được thu gom còn để lại trên đồng ruộng khi có mưa lớn sẽ trôi xuống lưu vực gây ô nhiễm môi trường nước. Ngoài ra, do việc xây dựng nhà lưới, nhà kính sản xuất sau hoa công nghệ cao trên lưu vực đã gây nên lưu tốc dòng chảy trên các suối nhánh. Dòng chảy tập trung là điều kiện gia tăng xói mòn, rửa trôi đất, cuốn theo các phế phẩm và phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp.

- Chất thải công nghiệp: Trong lưu vực có một số cơ sở ỏ khu vực chợ Phan Chu Trinh, một số cơ sở giết mổ gia súc...có thải nước thải chưa được xử lý đúng tiêu chuẩn hoặc chưa có hệ thống xử lý nước thải xuống các mương suối trong lưu vực.

- Sân golf: nguồn ô nhiễm dinh dưỡng và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có thể rất lớn từ hoạt động tưới cỏ của sân golf Đồi Cù. Có một khoảng thời gian nhất định trong năm sân golf sử dụng nước hồ Xuân Hương để tưới cỏ. Theo báo cáo của Câu Lạc Bộ Golf Đà Lạt tổng lượng phân bón các loại trong năm 2011 là: 9.087 kg trong đó chủ yếu là lượng NPK.

  Chất lượng môi trường:

- Các chất vô cơ và pH: nhìn chung hồ Xuân Hương chưa có giấu hiệu ô nhiễm các chất vô cơ, ngoại trừ một số vị trí trong mùa mưa ghi nhận được hàm lượng sắt có tăng cao. Giá trị pH biến thiên mạnh từ 5,37 - 9,87 có thể là do tiếp nhận nhiều nguồn nước khác nhau.

- Các chất hữu cơ: nước hồ có biểu hiện ô nhiễm hữu cơ, hàm lượng BOD và COD tại các một số điểm quan trắc vượt QCVN 08:2008/BTNMT.

- Các chất dinh dưỡng: nhìn chung giá trị các chất dinh dưỡng trong nước hồ tăng cao, các kết quả quan trắc nồng độ N-NH4+ trong năm 2011 thì hầu hết đều vượt so với quy định QCVN. Được xem là đang ở tình trạng phú dưỡng.

- Vi sinh vật: nước hồ bị nhiễm bẩn vi khuẩn ở mức độ tương đối cao thể hiện qua chỉ số Tổng coliforms tại một số thời điểm quan trắc giá trị ghi nhận vượt tiêu chuẩn hàng chục lần. Điều này có thể giải thích là nước hồ bị nhiễm bẩn do nước thải sinh hoạt của khu vực đô thị trong vùng lưu vực.

Thành phần và số lượng loài phiêu sinh ưu thế:

Xu hướng biến đổi số lượng tế bào của các loài phiêu sinh thực vật trong các năm càng ngày càng thay đổi và loài tảo silic Nitzschia acicularis và tảo lam Microcystis càng ngày càng chiếm ưu thế, có nghĩa là hàm lượng muối dinh dưỡng và chất hữu cơ ở trong hồ đã tăng lên rõ rệt gây hiện tượng phú dưỡng hóa.

2. Tình hình nghiên cứu và các giải pháp đề xuất:

2.1. Một số nghiên cứu và ứng dụng:

Một số nghiên cứu đã đưa ra được hiện trạng chất lượng môi trường cũng như nêu lên nguồn gốc gây ô nhiễm và các biện pháp bảo vệ chất lượng môi trường nước hồ, như đề tài cấp tỉnh “Điều tra ô nhiễm nước hồ Xuân Hương, đề xuất các giải pháp khắc phục” do Viện Nghiên cứu Hạt nhân thực hiện năm 2005. Gần đây nhất có đề tài “Hiện tượng tảo nở hoa trong các thuỷ vực của thành phố Đà Lạt, ảnh hưởng của nó đến chất lượng nước và biện pháp xử lý” do trường Đại học Đà Lạt thực hiện năm 2007.

Bên cạnh đó, cũng có một số đề tài khác nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến ô nhiễm chất lượng nước hồ, hiện tượng tảo nở hoa … Song những đề tài này chỉ mới đề cập đến những vấn đề hiện trạng, nguyên nhân gây ô nhiễm chưa đi vào chi tiết, phân tích đánh giá và đề ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm cụ thể đối với việc quy hoạch quản lý vùng thượng nguồn lưu vực.

Năm 2004, có một dự án thí điểm xử lý ở hồ Đội Có, vớ tên gọi “ Xử lý ô nhiễm nguồn nước hồ lắng số 3: chủ đầu tư là BQL và khai thác các công trình thủy lợi,  do Trung tâm Nghiên cứu và quản lý kỹ thuật môi trường TP HCM, thực hiện 03 tháng, sau xử lý nước hồ có cải thiện đáng kể, tuy nhiên nguồn ô nhiễm vẫn tiếp tục chảy tới, nên về sau vẫn trở lại như cũ. Năm 2009 Trung tâm nông nghiệp TP Đà Lạt đã thực hiện dự án “Nghiên cứu một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp vùng thượng lưu hồ Xuân Hương”.

Ngoài ra TP Đà Lạt thường xuyên chỉ đạo các đơn vị xử lý tình thế mỗi khi có các đợt tảo lam nở hoa như:

 - Thành phố duy trì cấp kinh phí để thu gom rác từ các hồ lắng; vào các đợt cao điểm tảo chết nhiều gây ô nhiễm trên bề mặt hồ thì xử lý tạm thời bằng phương pháp giăng lưới gom tảo chết trên bề mặt hồ sau đó dùng xe bồn hút mang đi đổ;

- Thả cá lọai cá mè trắng, mè hoa là lòai ăn thủy sinh, cá mè tham gia khai thác tối ưu nguồn năng lượng trong các hệ sinh thái ao, hồ, góp phần chống ô nhiễm môi trường nước.

2.2 Một số giải pháp đề xuất:

2.2.1  Giải pháp tình thế khống chế tình trạng tảo lam phát triển:

Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, người ta đã áp dụng một số phương pháp xử lý hoặc khống chế hiện tượng tảo nở hoa trong môi trường nước. Một số công nghệ đã được triển khai và thu được những kết quả nhất định.

Xử lý bằng hoá học: Một trong những công nghệ có thể mang lại hiệu tất thời, tuy nhiên sử dụng các phương pháp hoá học này giá thành cao, tốn kém nhiều và chỉ hiệu quả cao ở các hồ bị cô lập nước.

Lượng hoá chất cần thiết ở một số nơi đã thực hiện như ở Liên Xô cũ, P.T.GALACUN (1976) đã xử dụng sulfat đồng, liều lượng 0,6 g/m3 để diệt tảo lam nở hoa trong các ao nuôi cá. Ở Thành phố Hồ Chí Minh và các nơi khác, để diệt các loài tảo bám và tảo phiêu sinh ở các hồ bơi người ta dùng sulfat đồng với liều lượng 1 - 2 mg/L.

Xử lý bằng ức chế sinh trưởng của tảo :

- Ở Mỹ (1972), Swingle đã xử lý hiện tượng nở hoa của tảo lam ở hồ thuộc bang Alabama bằng cách bón Superphosphate liều lượng 20 kg/1ha mặt nước hồ.

- Năm 1986 - 1987, nhóm chuyên gia Viện Môi trường và Phát triển Bền vững đã xử lý hiện tượng nở hoa của các ao nuôi cá vùng Cần Thơ, Tiền Giang, ao nuôi Artemia ở ruộng muối Sóc Trăng, Quảng Ngãi bằng superphosphate liều lượng 5 kg/ha mặt nước ao. Tiếp theo là áp dụng biện pháp sinh học nuôi tảo Chlorella - một chi tảo sử dụng lượng lớn chất hữu cơ trong nước cho sinh trưởng và phát triển, chất tiết của Chlorella có khả năng ức chế sinh trưởng của tảo khác. Khi đạt mật độ 500 tb/m/L thì đổ nước nuôi tảo cho 10 m3 nước ao.

Phương pháp sử dụng vi sóng:  để xử lý thu gom tảo cũng được nghiên cứu và ứng dụng nhiều. Một số nước sử dụng phương pháp này để xử lý tảo trong nước thải. Việc triển khai công nghệ này ở điều kiện xử lý tảo trong diện tích hồ rộng lớn cũng sẽ gặp khó khăn.

Phương pháp trồng thực vật thuỷ sinh: như một giá thể cho các loại phiêu sinh sống bám có lợi trong việc xử lý chất lượng nước, mặt khác các thực vật thuỷ sinh này sẽ là tác nhân cảng ánh sáng mặt trời. Bên cạnh đó kết hợp sử dụng các loài tảo sử dụng nhiều chất hữu cơ cho sinh trưởng và chất tiết của chúng có khả năng ức chế hoạt động của các loài tảo khác và là thức ăn tốt cho các loài động vật thủy sinh ăn lọc trong hồ (các loài trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, nhuyễn thể hai mảnh vỏ) như là tảo Chlorella. Thúc đẩy sự phát triển của động vật ăn lọc ở tầng nước và đáy. Phương pháp này cũng được ứng dụng nhiều vì dễ thực hiện, giá thành tương đối rẽ, tăng tính đa dạng sinh học mà còn tạo được cảnh quan đẹp cho hồ.

2.2.2  Giải pháp quy hoạch quản lý chất lượng môi trường:

Vấn đề quản lý môi trường lưu vực sẽ là thách thức rất lớn đối với thành phố Đà Lạt, cần phải có kế hoạch quản lý tổng hợp các hoạt động trong vùng lưu vực để chủ động kiểm soát chất lượng nước hồ. Các dự án phát triển kinh tế xã hội trong vùng lưu vực cần phải được xem xét kỹ lưỡng, tránh gia tăng các hoạt động có khả năng sinh thêm nguồn ô nhiễm, đặc biệt là nguồn ô nhiễm dinh dưỡng. Quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đảm bảo duy trì tối thiểu các mặt đệm tự nhiên để giữ nước trong lưu vực. Các dự án, hoạt động khai thác nước trong lưu vực cần phải được nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc, tránh làm cạn kiệt nguồn nước bổ cập cho hồ Xuân Hương.

Biết rằng giải pháp quy hoạch để quản lý tổng hợp các hoạt động trong vùng lưu vực gây ảnh hưởng môi trường hồ Xuân Hương là biện pháp có tính bền vững nhất, tuy nhiên cần một thời gian dài mới thực hiện được. Vì vậy các giải pháp khác vẫn hết sức cần thiết cho hiện tại và tương lai trong vòng 5-15 năm tới để bảo vệ hồ Xuân Hương.

Nguồn: Tài liệu hội thảo "Các giải pháp xử lý bền vững ô nhiễm hồ Xuân Hương", tháng 4/2012

 

Lượt xem: 2.653

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây

THÔNG BÁO

Thống kê
  • Lượt truy cập: 4.808.491
  • Đang phục vụ: 190
  • Trong tuần: 18.787
  • Trong tháng: 56.716
  • Trong năm: 1.148.363