hội thảo khoa học
Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến nâng cao chất lượng cây giống invitro, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu 23/02/2011 In trang

Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Rừng hoa Đà Lạt là doanh nghiệp đầu tiên trong nước xuất khẩu cây giống in vitro sang thị trường châu Âu. Trải qua hơn 7 năm hoạt động trong lĩnh vực giống, Công ty luôn cố gắng đổi mới và phát triển về công nghệ, kỹ thuật, quy mô và chất lượng để sản xuất giống chất lượng cao, sạch bệnh và đồng đều nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng công nghệ cao.

Hiện nay tại Lâm Đồng đã có trên 35 cơ sở ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vật, nhưng chưa có cơ sở nào sản xuất trên quy mô công nghiệp. Hàng năm các cơ sở này sản xuất đến 10 triệu cây giống in vitro các loại nhưng chủng giống vẫn chưa phong phú, đa dạng, phần lớn chưa có bản quyền, chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng nên rất khó tham gia xuất khẩu. Vì vậy, đa số cây giống in vitro được sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa.

Sản xuất xuất khẩu giống in vitro là một vấn đề đòi hỏi sự cải thiện toàn diện cả về năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, quy mô sản xuất công nghiệp,… của doanh nghiệp. Đó là khả năng biết tận dụng nguồn lao động dồi dào, nguồn nhân lực trí thức để giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh sản xuất giống theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn. Đó cũng là vai trò của chính quyền các cấp, các nhà quản trị doanh nghiệp, đội ngũ kỹ thuật có tài năng, có nhiệt huyết trong công việc. Theo quan điểm của mình, chúng tôi cho rằng đứng trước nhu cầu tiêu thụ lớn về giống in vitro từ các nước phát triển, nông nghiệp Việt Nam nên sẵn sàng thay đổi, cải tiến mình. Điều đó sẽ giúp nâng cao năng lực về công tác giống, giúp cải thiện thói quen sản xuất giống truyền thống, giúp phát triển nền kinh tế nông nghiệp của địa phương nói riêng, nước nhà nói chung trong thời đại mở cửa ngày nay. Hoặc, ngành giống cây trồng Việt Nam sẽ chỉ dừng lại ở mốc “tự cung – tự cầu” (khá dễ tính về chất lượng, lại lỏng lẻo trong quản lý nguồn gốc) và chưa thể trở thành 1 mắt xích trong mạng lưới sản xuất – cung cấp giống toàn cầu.

Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Rừng hoa Đà Lạt là một doanh nghiệp tự vươn mình ra khỏi thị trường nội địa để tiếp cận, học hỏi, ứng dụng thành quả khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thế giới. Tuy chưa trở thành doanh nghiệp lớn mạnh về giống in vitro, nhưng chúng tôi xin chia sẻ một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sản xuất giống in vitro về chất lượng, số lượng theo quy mô công nghiệp và giúp mở rộng thị trường tiêu thụ giống in vitro trong và ngoài nước như sau:

1. Xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng công suất sản xuất lớn

Để sản xuất phục vụ xuất khẩu đòi hỏi cơ sở hạ tầng phải đủ lớn, thích hợp cho hoạt động sản xuất theo quy mô công nghiệp với quy trình khép kín, dễ quản lý, đảm bảo công suất. Công ty Rừng hoa Đà Lạt có phòng thí nghiệm với diện tích đến 2.000 m2, gồm 2 phòng cấy chứa hơn 50 tủ cấy, 1 phòng pha môi trường công suất 500 lít/ngày, 6 phòng sáng lưu trữ hơn 3 triệu cây giống. Công suất sản xuất lên đến 12 triệu cây giống in vitro/năm. Với lượng khách hàng ngày càng tăng, cùng sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ từ 500.000–1.000.000 cây giống in vitro/khách/năm, chúng tôi dự kiến đầu tư thêm 1 phòng thí nghiệm với quy mô lớn hơn trong năm 2011.

Cơ sở hạ tầng lớn phải tương ứng với máy móc và trang thiết bị hiện đại, phục vụ tiến độ sản xuất nhanh chóng hiệu quả, cơ giới hóa, tiết kiệm lao động, tận dụng tối đa nguyên – nhiên vật liệu, đạt được hiệu suất làm việc tốt nhất và hiệu quả kinh tế đạt được cao nhất.

Tuy nhiên để thực hiện được vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp cần có khoản vốn lớn cho đầu tư ban đầu. Do đó, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương các cấp cho doanh nghiệp thông qua những chính sách, những nguồn vốn dự án là vô cùng cấp thiết để giúp họ vượt qua khó khăn trên.

2. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực và trình độ sản xuất

Việc đào tạo nguồn nhân lực phải được coi trọng như là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Thông qua đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân viên có đủ năng lực về quản lý, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ hội nhập càng sâu vào nền kinh tế – sản xuất – thương mại của thế giới. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tăng cường  công tác tuyển chọn cán bộ nhân viên, kỹ thuật viên giỏi, có năng lực và tâm huyết đi học tập, đào tạo tại nước ngoài. Đội ngũ này sẽ được nâng cao trình độ chuyên môn về lai tạo giống, nhân giống in vitro, quản lý, tổ chức sản xuất và quan trọng nhất là thay đổi được lối mòn của thói quen sản xuất cũ - nhỏ lẻ, manh mún đã từng hằn sâu trong tiềm thức của nhiều người. Bên cạnh đó, phải có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên tập trung nghiên cứu theo chương trình của dự án.

Doanh nghiệp của chúng tôi đã cử được đội ngũ nhân viên sang Vương quốc Bỉ học tập kỹ thuật nhân giống in vitro, tổ chức quản lý sản xuất đạt hiệu quả cao về công suất – chất lượng – sản lượng. Đặc biệt, đội ngũ của chúng tôi đã học tập được kinh nghiệm những quy trình nhân giống tối ưu của nước ngoài, và áp dụng cho nghiên cứu những giống cây trồng khác tại Việt Nam.

3. Cải thiện quy trình kỹ thuật và tối ưu hóa chất lượng

Bất cứ nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhân giống cây in vitro cũng sẽ được kiểm tra và áp dụng cho toàn bộ hệ thống sản xuất. Thực tế cho thấy, một cải tiến đơn giản trong thao tác kỹ thuật, phương pháp quản lý hay trong quy trình sản xuất cũng mang lại hiệu quả đáng kinh ngạc khi được áp dụng trên quy mô công nghiệp. Cụ thể như sự phân nhóm sản xuất và phân quyền quản lý từng chủng loài giống đã đem lại động lực lớn trong công việc của từng bộ phận, giúp dây chuyền sản xuất cây giống in vitro ngày càng chuyên nghiệp hơn. Đặc biệt trong sản xuất xuất khẩu sẽ cho ra những sản phẩm có chất lượng đồng đều, quy trình sản xuất ổn định là hai vấn đề thiết yếu nhất.

Trên cơ sở đó, những cải tiến mang tính chất đột phá của Công ty CNSH Rừng hoa Đà Lạt hiện nay là:

- Túi nilon có bộ phận lọc khí

Đây là giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao do giảm chi phí vật liệu, giảm hao hụt khi sử dụng chai thủy tinh. Với màng lọc khuẩn giúp trao đổi không khí giữa môi trường bên trong và bên ngoài, giảm nguy cơ nhiễm bệnh và giúp nâng cao tỷ lệ sống của cây trồng. Ngoài ra, túi nilon có lọc khí còn giúp tăng mật độ cây trồng  trên đơn vị diện tích sử dụng. Nếu dùng chai thủy tinh hay túi nilon thông thường chỉ có thể được 30 cây trong cùng một thể tích. Đối với túi nilon có sử dụng màng lọc, số lượng cây tăng lên 60 cây trong cùng một thể tích. Chính hệ thống lọc khí bằng màng lọc vô khuẩn sẽ giúp phá vỡ hàng ngăn cách giữa vi khí hậu nuôi cấy và điều kiện khí hậu xung quanh, nhờ đó giúp cây giống in vitro nhanh thích nghi hơn với điều kiện bên ngoài, làm tăng khả năng sống trước sự thay đổi lớn của môi trường (shock nhiệt).

- Chế độ chiếu sáng

Thông thường người ta cung cấp ánh sáng nhân tạo cho cây đang trong thời kỳ nuôi cấy mô in vitro từ 10–14 giờ/ngày. Tuy nhiên, chúng tôi đã ứng dụng kỹ thuật từ nước ngoài và nghiên cứu để duy trì chế độ chiếu sáng theo từng giai đoạn phù hợp với chu kỳ sinh trưởng và nhu cầu sinh lý của cây, đảm bảo 16/24 giờ/ngày. Với thời gian chiếu sáng ngắn nhất có thể mà vẫn đảm bảo hiệu suất nhân, tốc độ sinh trưởng của cây sẽ mang lại hiệu quả kinh tế tối ưu cho sản xuất trên quy mô đại trà.

- Hệ thống làm mát bằng khí trời

Nhiệt độ phòng sáng được điều chỉnh bằng hệ thống máy điều hòa. Nhưng chúng tôi đã nghiên cứu và sử dụng hệ thống hệ thống làm mát bằng khí trời với quạt đối lưu, hệ thống nước phun sương theo chu kỳ giúp giảm nhiệt độ mái, giảm chi phí điện năng tiêu hao từ sử dụng hệ thống điều hòa. Phương pháp này giúp tiết kiệm chi phí đáng kể cho doanh nghiệp.

- Hệ thống nhân nhanh bằng Bioreactor

Hệ thống Bioreactor giúp gia tăng số lượng mô sẹo hay protocom ban đầu với tốc độ nhanh chóng, đáp ứng nguồn nguyên liệu cho sản xuất của phòng cấy. Với hệ thống này có thể sử dụng cho toàn bộ giai đoạn nhân giống in vitro, tuy nhiên trong sản xuất theo quy mô công nghiệp, để thuận tiện trong quản lý và sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, chúng tôi chỉ chỉ áp dụng Bioreactor cho những cụm mô sẹo hay protocom đang trong giai đoạn phân tách thành tế bào chưa hoàn chỉnh, sau đó sẽ phân loại và đưa vào phòng nuôi cấy để tiếp tục giai đoạn phân hóa. Tuy nhiên, việc đầu tư cho hệ thống Bioreactor khá tốn kém, do đó chúng tôi còn ứng dụng kỹ thuật ngập chìm tạm thời (TIS) cũng mang lại hiệu quả cao trong công tác nhân giống cây in vitro giúp gia tăng sinh khối mà chi phí đầu tư không cao.

- Hồ sơ quản lý nguồn giống

Quản lý nguồn giống một cách khoa học được xem là phương pháp quản lý hiệu quả nhất để kỹ thuật viên dễ dàng phát hiện những thiếu sót trong kỹ thuật, đánh giá được hiệu quả của từng khâu sản xuất và thuận tiện trong việc truy xuất nguyên căn của sự bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất theo dây chuyền. Nhờ đó có biện pháp xử lý kịp thời và chính xác nhất, đảm bảo tiến độ sản xuất của phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào thực vật. Toàn bộ dữ liệu được quản lý chặt chẽ bằng hệ thống vi tính dưới sự kiểm soát của những người quản lý.

- Kiểm tra chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào

Bất kỳ một yếu tố nào dù là côn trùng, nấm, vi khuẩn hay virus, một khi đã xâm nhập vào hệ thống sản xuất sẽ bùng phát dịch và rất dễ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp. Do đó, vấn đề vô trùng trong sản xuất vô cùng quan trọng và đặc biệt nhất là khâu kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm loại bỏ ngay những cây giống đã nhiễm bệnh. Chúng tôi đã xây dựng một phòng chuyên chức năng soi, sàng lọc, phân loại để tuyển chọn nguồn giống sạch bệnh cho hoạt động sản xuất trên quy mô công nghiệp đạt hiệu quả cao.

4. Khảo sát thị trường

Đây là hoạt động vô cùng quan trọng giúp doanh nghiệp xác định hướng phát triển và chủng loại giống mục tiêu trong sản xuất kinh doanh cây giống in vitro. Chính vì vậy, công việc này đòi hỏi phải có tầm nhìn sâu rộng, có kinh nghiệm khảo sát và phân tích thị trường nước ngoài, có sự nhạy cảm với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Chi phí cho khảo sát trực tiếp thị trường khá lớn, doanh nghiệp cần phải mạnh dạn đầu tư và thấy được giá trị của sự đầu tư này mới có thể chi trả một lượng phí lớn cho nghiên cứu – phân tích – khảo sát thị trường. Khảo sát thị trường giúp cho doanh nghiệp biết giống cây trồng nào có nhu cầu lớn mà Việt Nam – bản thân doanh nghiệp đủ sức đáp ứng, phù hợp với điều kiện và quy mô sản xuất của mình nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất.

Những giống mới được tuyển chọn có thể xuất phát từ yêu cầu trực tiếp của các khách hàng. Nhưng trong trường hợp nào, những giống mới mục tiêu khi đã được chọn cũng phải trải qua giai đoạn thử nghiệm và tối ưu hóa quy trình để chuẩn bị đưa vào sản xuất với số lượng lớn.

5. Mua bản quyền hoặc nhượng quyền sản xuất

Khi đã có trong tay ý tưởng kinh doanh giống, có khách hàng tiềm năng trong và ngoài nước, việc làm tiếp theo là hợp pháp hóa thủ tục – khâu thiết yếu của hoạt động xuất khẩu, đây là vấn đề yếu nhất tại Việt Nam. Tuy vậy, để có chứng nhận xuất xứ thì chi phí mua giống ban đầu – mua bản quyền nhân giống in vitro – mua quy trình công nghệ lại là vấn đề khá khó khăn với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chi phí này đẩy giá thành của giống lên cao. Để giải quyết, các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp cần hợp tác thành tổ chức, hiệp hội để cùng nhau đầu tư chi phí bản quyền giống hoặc mua nhượng quyền sản xuất giống. Sự liên kết này giúp giảm giá thành cây giống 1/3 so với cá nhân từng doanh nghiệp mua và sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh về giống in vitro của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong mối quan hệ hợp tác sản xuất - kinh doanh độc quyền, các khách hàng và các nhà cung cấp có tâm lý lo ngại bởi sự tín nhiệm của đối tác chưa cao, rất sợ doanh nghiệp khai thác trái phép nguồn giống độc quyền vào mục đích sử dụng cá nhân tại các thị trường khác gây tổn hại đến nhà cung cấp. Do đó để nhân giống in vitro xuất khẩu bền vững đòi hỏi sự uy tín và nghiêm khắc của bản thân các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, để thuận lợi hơn trong khai thác và sử dụng giống, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nên có đội ngũ quản lý danh mục các giống được bảo hộ để cập nhật chính xác những giống có khả năng thương mại hiệu quả và đã hết quyền bảo hộ giống để khai thác đại trà. Sử dụng những giống này sẽ giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện thuận tiện để tiếp xúc với thị trường xuất khẩu cây giống in vitro.

6. Bảo tồn và giữ giống

Thị trường xuất khẩu với đặc tính rất đa dạng và luôn thay đổi về nhu cầu nên nguồn giống cung cấp không phải chỉ một mà rất nhiều chủng loại. Hiện nay, số lượng chủng cây giống trong phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào thực vật của chúng tôi đã lên tới 600 loài, đáp ứng nhu cầu cho các nước Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Nhật Bản. Chúng tôi nhận thấy rằng, rất cần thiết phải xây dựng một trung tâm bảo tồn những giống đã mua bản quyền nhân giống để giữ giống và sử dụng khi cần thiết để có nguồn nguyên liệu ban đầu cho công tác lai giống, tạo giống mới. Đặc biệt là đối với những giống nội địa, quý hiếm, cần được lưu giữ giống bằng nuôi cấy mô tế bào thực vật, cần cấy chuyền liên tục, bảo quản lạnh để phòng sự mất giống mà không thể phục hồi lại được.

Mặt khác, nếu giống được khai thác sử dụng xuất phát từ khách hàng thì kế hoạch nhân giống sẽ do khách hàng đặt trước 6–12 tháng và kéo dài trong 1 năm. Nếu không quản lý tốt trong sản xuất sẽ làm mất giống, gây tổn thất và thiệt hại lớn cho khách hàng. Do đó, khi một cơ sở sản xuất không đảm bảo phương pháp quản lý và bảo tồn tốt nguồn giống in vitro, chắc chắn sẽ không thể hợp tác dài lâu.

Tóm lại, khả năng bảo tồn và giữ giống thể hiện năng lực của doanh nghiệp nhân giống và của địa phương. Công việc này đòi hỏi nhiều công sức, cần nhiều nhân lực có chuyên môn, cần có cơ sở hạ tầng, kinh phí và phương pháp quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.

7. Xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững

Cây giống in vitro tham gia xuất khẩu hoàn toàn không gặp khó khăn về kiểm dịch thực vật như đối với rau, hoa, quả tươi nên đó là điểm mạnh của việc kinh doanh – sản xuất cây giống in vitro. Vì vậy, việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng trong nước (nông dân có nhu cầu sử dụng giống sạch bệnh, chất lượng cao, giống mới đáp ứng cho sản xuất nông nghiệp) và ngoài nước (các công ty cây cảnh và hoa hoặc các vườn ươm trên toàn cầu) đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu sản phẩm cây giống in vitro.

Việc xúc tiến mở rộng thị trường tiêu thụ liên quan mật thiết với quan hệ hợp tác của doanh nghiệp với các tổ chức, cơ quan, đối tác và các viện nghiên cứu trong và ngoài nước. Điều này một mặt giúp doanh nghiệp tiếp cận với nhu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu giống cây in vitro, mặt khác cùng hỗ trợ nhau giải quyết các vấn đề về kỹ thuật, xử lý bệnh cây hay các tình trạng biến dị, đột biến bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất.

Theo chúng tôi, sản xuất nông nghiệp sử dụng giống cây mô in vitro tuy không mới, nhưng hiện nay, đó vẫn là xu hướng phát triển bền vững của ngành nông nghiệp công nghệ cao.

8. Đẩy mạnh hợp tác sản xuất và xây dựng mô hình thí điểm lai tạo giống

Sự hợp tác sản xuất của các cơ sở nhân giống trong nước không chỉ giúp giảm giá thành sản phẩm mà còn giải quyết được yêu cầu về số lượng lớn cho các đơn đặt hàng từ nước ngoài. Bởi một doanh nghiệp tuy đã đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cho xuất khẩu, nhưng khó thỏa mãn nhu cầu số lượng lớn của khách hàng do quy mô sản xuất giống ở nước ta khá nhỏ, phòng thí nghiệm có quy mô và công suất không lớn, không đủ đáp ứng nhu cầu cao về giống rau, hoa, cây cảnh của cả trong và ngoài nước. Để khai thác và đáp ứng nhu cầu cho bản thân doanh nghiệp, người nông dân, khách hàng trong và ngoài nước cần có sự hòa hợp, điều chỉnh và sự đổi mới thông minh của chúng ta.

Hơn nữa, cơ quan nhà nước cũng cần có những chương trình đầu tư xây dựng các mô hình thí điểm nhân giống và lai tạo giống mới ứng dụng công nghệ cao, công suất lớn, hoạt động hiệu quả. Một mặt giúp Việt Nam tự tạo ra được bộ giống riêng mới cho đất nước, lưu giữ và phát triển các chủng giống địa phương quý hiếm – là nguồn tài nguyên để trao đổi, thương mại giống in vitro với bạn bè quốc tế. Mặt khác, giúp đưa mô hình thí điểm này phát triển đại trà đến các trung tâm nghiên cứu giống quốc gia, các cơ sở sản xuất giống tư nhân,… và khuyến khích người dân sử dụng nguồn giống mới, chất lượng cao. Để tạo được thế mạnh về giống, giảm bớt khó khăn và tăng nhanh hiệu quả của các mô hình lai tạo – sản xuất – nhân giống thí điểm, cần thiết liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm, có thế mạnh về nhân và tạo giống để tiếp tục phát triển mô hình trên nền tảng có sẵn.

Doanh nghiệp Rừng hoa Đà Lạt tuy chưa phải là một công ty giống đa quốc gia nhưng chúng tôi đã ngày càng chuyên nghiệp hơn trong sản xuất – kinh doanh giống cây nuôi cấy mô in vitro.Với kinh nghiệm của mình, chúng tôi mong muốn đóng góp một số giải pháp để giúp nâng cao chất lượng, số lượng cây giống in vitro, hướng cho các cơ sở kinh doanh giống in vitro cũng phát triển và đáp ứng cho thị trường xuất khẩu. Đặc biệt, với sự phối hợp của các tổ chức nước ngoài, cơ quan chính phủ, các hiệp hội, các doanh nghiệp và người nông dân có thể giúp ngành nông nghiệp của Đà Lạt nói riêng – Việt Nam nói chung tiếp cận sâu vào thị trường thế giới, trở thành thương hiệu giống nổi tiếng về chất lượng, công nghệ và dịch vụ.

Nguồn: Hội thảo Sản xuất Rau và Hoa công nghệ cao

Lượt xem: 718

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây

THÔNG BÁO

Thống kê
  • Lượt truy cập: 4.391.124
  • Đang phục vụ: 178
  • Trong tuần: 17.131
  • Trong tháng: 80.573
  • Trong năm: 730.996