Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Thuế quan và hàng rào kỹ thuật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
HỒ ĐỨC BÌNH. Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan Đà Lạt
2018
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Trong xu thế chung của thế giới là hướng đến nền kinh tế toàn cầu hóa, thúc đẩy mạnh mẽ tự do thương mại và phát triển đến giai đoạn cao của nền kinh tế tri thức, Việt Nam đã từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để có thể tham gia vào các tổ chức, các định chế quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải cam kết và thực hiện nhiều chuẩn mực quốc tế về thuế quan, thương mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư, hàng rào kỹ thuật…

Nguyên tắc chung khi gia nhập các tổ chức thương mại, các định chế mậu dịch tự do là luôn chủ trương tăng cường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, để chất lượng và giá cả quyết định vận mệnh của hàng hóa; không dùng quyền lực Nhà nước để áp đặt, bóp méo tính lành mạnh, công bằng trong cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Đồng thời, các nước phải cam kết lộ trình cụ thể về cắt giảm thuế quan trong quá trình đàm phán.

Cùng với công cuộc đổi mới đất nước, việc gia nhập các tổ chức thương mại toàn cầu và khu vực đã mang lại cho nước ta cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do tiếp cận thị trường quốc tế rộng lớn với khoảng 170 thành viên và có vị thế về thị trường ngang nhau với các nước đó. Hàng hóa có thể thâm nhập vào thị trường khổng lồ này mà không gặp nhiều trở ngại, được đối xử tối huệ quốc vô điều kiện, thuế nhập khẩu vào các nước thành viên giảm đáng kể, được hưởng chế độ thuế quan phổ cập vì là nước đang
phát triển...

Tiến trình thực hiện các cam kết về thuế quan của Việt Nam

Cam kết thuế quan theo lộ trình gia nhập WTO và các tổ chức đa phương, song phương

Về thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu khi gia nhập WTO

Thực hiện cam kết khi gia nhập WTO, Quốc hội đã ban hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 với nhiều điểm thay đổi phù hợp với cam kết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12 ngày 28/9/2007 về biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng; Nghị quyết số 710/2008/UBTVQH12 ngày 22/11/2008, Nghị quyết số 830/2009/UBTV12 ngày 17/10/2009 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 295/2007/NQ-UBTVQH12.

Trong lĩnh vực thuế quan, năm 1998, Việt Nam đã ký kết tham gia Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (có hiệu lực ngày 01/01/2001), Công ước Kyoto… Theo đó, Việt Nam cam kết thực hiện các chuẩn mực quốc tế về Danh mục hệ thống hài hòa HS tại Việt Nam (phân loại hàng hóa), về xác định trị giá hải quan (GATT), áp dụng các quy tắc xuất xứ trong thương mại, hạn ngạch thuế quan, miễn giảm thuế, quy định về hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa…

Căn cứ vào các Nghị quyết trên, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư quy định mức thuế suất của biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) theo Danh mục mặt hàng chịu thuế (dành cho các nước đã gia nhập WTO và một số nước có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc với Việt Nam) theo từng thời kỳ.

Sau hơn 10 năm đi vào cuộc sống, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, do tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng, nhiều quy định của Luật đã không còn phù hợp. Do đó, ngày 06/4/2016, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi, thay thế Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2016).

Dựa trên nguyên tắc xây dựng biểu thuế, Việt Nam đã sắp xếp, rút gọn, loại bỏ nhiều dòng hàng. Hiện nay, biểu thuế chỉ còn khoảng 9.100 dòng, trong đó, đã cắt giảm thuế
4.200 dòng hàng - là những mặt hàng thuộc các ngành rau - quả tươi, cà phê, chè, một số nông sản khác, dầu thực vật, thịt chế biến, rượu bia, thuốc lá, xi măng...

Nguyên tắc xây dựng các biểu thuế

+ Phải phù hợp với biểu khung thuế xuất khẩu, biểu khung thuế nhập khẩu theo các Nghị quyết do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành.

+ Đảm bảo phù hợp với Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) phiên bản 2007 (HS 2007) và Danh mục Biểu thuế chung ASEAN 2007 (AHTN 2007).

+ Thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan mà Việt Nam đưa ra trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.

+ Đảm bảo thực hiện có hiệu quả các chính sách kinh tế, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

+ Góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

+ Mức thuế suất được xây dựng hài hòa giữa cam kết trong WTO và các cam kết đa phương, song phương khác; không để mức thuế suất chênh lệch quá lớn gây chuyển hướng thương mại.

+ Hạn chế tối đa việc nâng thuế nhập khẩu trong điều kiện giá cả đang tăng cao, lạm phát trên hai con số
đối với các nhóm hàng thiết yếu, phục vụ đời sống hàng ngày. Chỉ tăng thuế khi thật sự cần thiết.

+ Xây dựng mức thuế suất giống nhau đối với các mặt hàng có tính chất tương tự để hạn chế gian lận
thương mại.

Về thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu khi gia nhập các khu vực mậu dịch tự do (FTA)

Ngoài các nguyên tắc xây dựng biểu thuế như trên, việc xây dựng các biểu thuế tham gia các khu vực mậu dịch tự do (FTA) còn dựa trên các Hiệp định khung của Chính phủ Việt Nam về hợp tác kinh tế toàn diện với các nước. Trong đó có các Danh mục hàng hóa thuộc Chương trình thu hoạch sớm (EPH) của Hiệp định khung ASEAN, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Ấn Độ... Các biểu thuế này chỉ cắt giảm các mặt hàng theo lộ trình cam kết của Việt Nam đối với từng nước, khối nước, tiến tới xóa bỏ thuế nhập khẩu (thuế suất = 0%) đối với các mặt hàng này.

Các biểu thuế nêu trên thường gọi là biểu thuế ưu đãi đặc biệt (khác với ưu đãi MFN) vì có mức cắt giảm cao hơn so với mức thuế MFN. Để được hưởng mức thuế ưu đãi đặc biệt, người nhập khẩu phải đáp ứng các điều kiện và chứng minh được xuất xứ hàng hóa theo quy định.

Các hàng rào kỹ thuật

Việt Nam phải cắt giảm thuế quan khi gia nhập các tổ chức, các định chế quốc tế dẫn đến hàng rào thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước dần không còn phù hợp. Bên cạnh đó, bất cứ quốc gia nào cũng phải có trách nhiệm bảo vệ sức khỏe của người dân, môi trường, động, thực vật, mùa màng, ngăn ngừa các hành vi gian lận hay ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Mặt khác, theo quy định của WTO, không hạn chế các hàng rào kỹ thuật của các Chính phủ, nhưng các Chính phủ không được dùng các biện pháp hành chính để can thiệp vào thị trường hàng hóa. Khi ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật... phải thông báo cho các thành viên WTO biết, đồng thời các cơ quan chứng nhận sự phù hợp phải mang tính độc lập với các cơ quan quản lý nhà nước.

Hướng dẫn thủ tục hải quan tại Công ty TNHH Apollo (Đơn Dương)
Hướng dẫn thủ tục hải quan tại Công ty TNHH Apollo (Đơn Dương)

Do đó, việc áp dụng hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu để dần thay thế các hàng rào thuế quan trước đây là một yêu cầu bắt buộc để bảo hộ sản xuất trong nước cũng như bảo vệ sức khỏe, môi trường...

Thực hiện thuế quan và hàng rào kỹ thuật trong quá trình hội nhập tại tỉnh Lâm Đồng

Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp của tỉnh đã được hưởng lợi ích từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế do tranh thủ nắm bắt thời cơ, nghiên cứu thị trường, tìm hiểu các quy định của pháp luật về thuế quan.

Về nhập khẩu: một số doanh nghiệp của tỉnh đã tranh thủ Việt Nam cắt giảm thuế khi gia nhập WTO, các khu vực mậu dịch tự do (FTA), đã nhập khẩu nguyên liệu, vật tư phục vụ các ngành sản xuất - kinh doanh như dệt may, rượu, sản xuất hoa, bauxite, khách sạn... từ các nước thành viên WTO hoặc các nước thuộc khối ASEAN, Trung Quốc... để được hưởng các mức thuế suất ưu đãi, ưu đãi đặc biệt. Do vậy đã giảm đáng kể chi phí đầu vào, góp phần giảm giá thành, tăng tính cạnh tranh về giá.

Về xuất khẩu: nhiều doanh nghiệp của tỉnh đã tranh thủ thời cơ, nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng với các đối tác thuộc các quốc gia thành viên WTO hoặc khu vực mậu dịch tự do như Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,... để hàng hóa được hưởng chế độ thuế quan phổ cập, tối huệ quốc hoặc ưu đãi đặc biệt. Các đối tác ở các quốc gia này cũng được hưởng lợi do hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam chỉ phải chịu thuế nhập khẩu ở nước sở tại rất thấp.

Một số tồn tại, nhược điểm

Tuy đạt được một số kết quả khả quan song trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào ở Lâm Đồng cũng tận dụng được các lợi thế khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu để phục vụ quá trình sản xuất - kinh doanh của mình. Một số nhược điểm mà các doanh nghiệp của tỉnh còn gặp phải, đó là:

Về nhập khẩu: nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt, nghiên cứu kỹ các quy định về xuất xứ hàng hóa nên khi nhập khẩu hàng hóa từ các nước thuộc khu vực mậu dịch tự do nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt do giấy chứng nhận xuất xứ chưa đáp ứng đúng quy định pháp luật. Một số doanh nghiệp còn chuộng hàng hóa của các quốc gia phát triển mà ít chú trọng tìm kiếm hàng hóa phù hợp được sản xuất từ khu vực ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,... để được hưởng lợi do mức giá bán rẻ hơn và thuế suất ưu đãi đặc biệt thấp hơn.

Về xuất khẩu: nhiều doanh nghiệp chưa ý thức được lợi thế của mình, chỉ sản xuất phục vụ thị trường truyền thống mà chưa nghiên cứu, tiếp cận thông tin, xúc tiến vào các thị trường mới, nhất là các thị trường thuộc khu vực mậu dịch tự do với lợi thế của một nước thành viên.

Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên hiện nay đang tăng cường các hàng rào kỹ thuật để đối phó với việc thâm nhập hàng hóa từ các nước thành viên nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Một số doanh nghiệp chưa chú trọng đến vấn đề này nên hàng hóa khi xuất khẩu sang nước thành viên không đạt chất lượng (về dư lượng thuốc trừ sâu, nhiễm khuẩn,...) bị trả lại không những gây mất uy tín và thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến thương hiệu quốc gia.

***

Tóm lại, quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới và khu vực mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước, đó là:

Hiện nay, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp lý quy định tiêu chuẩn kỹ thuật như Luật Thương mại; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật An toàn thực phẩm; Luật Quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; Pháp lệnh kiểm dịch thực vật; Luật Năng lượng nguyên tử,... Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành khoảng 6.000 tiêu chuẩn quốc gia, trong đó có khoảng 300 tiêu chuẩn quốc gia bắt buộc.

- Phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong khi khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước chưa cao, dễ bị lấn lướt, bóp nghẹt, thậm chí ngay cả trên sân nhà.

- Việt Nam phải thực hiện hàng loạt các cam kết, thỏa thuận đã ký trong các hiệp định song phương, đa phương cũng như quy chế của WTO.

- Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những kinh nghiệm quản lý đáp ứng yêu cầu của bộ máy quản lý đa năng và chuyên nghiệp.

Để tận dụng các cơ hội và vượt qua những thách thức, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng phải thích ứng và được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển.

Một số đề xuất, kiến nghị

- Phải chấp nhận cạnh tranh, mạnh dạn đổi mới công nghệ, vận hành hệ thống quản lý tiên tiến, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ, tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ với sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước, hướng tới xuất khẩu bền vững.

- Các doanh nghiệp phải nhận thức được lợi thế khi nước ta là thành viên của WTO và các khu vực mậu dịch tự do so với các nước khác, từ đó xác định thị trường mục tiêu, chuyển hướng sản xuất - kinh doanh có hiệu quả hơn.

- Các cơ quan xúc tiến thương mại cần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thông tin, nghiên cứu thị trường, các vấn đề pháp lý trong các lĩnh vực liên quan.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi trung và dài hạn để đầu tư, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực...

- Tỉnh Lâm Đồng cần có chiến lược lâu dài cho các hàng hóa là nông - lâm sản như chè, cà phê, rau, hoa,... nhất là chiến lược xuất khẩu vào các thị trường thành viên khu vực mậu dịch tự do như ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,...


Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.378.258
  • Đang online: 115
  • Trong tuần: 12.173
  • Trong tháng: 102.322
  • Trong năm: 102.322