Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Quy định an toàn đối với sản phẩm chè của tỉnh Lâm Đồng
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
NGUYỄN PHÚC TÍN. Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Thủy sản
2018
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

 Thách thức đối với ngành chè Lâm Đồng

Lâm Đồng là vùng nguyên liệu chè lớn nhất cả nước với diện tích khoảng 21.131 ha, chiếm 21% về diện tích và trên 30% về sản lượng của cả nước; tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Tp. Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà và Tp. Đà Lạt. Trong đó có khoảng 2.885 ha chè chất lượng cao như chè Oolong, Tứ Quý, Ngọc Thúy và trên 3.150 ha chè cành cao sản. Lâm Đồng hiện có 387 ha diện tích chè được sản xuất theo quy trình VietGAP. Toàn tỉnh đã xây dựng được 17 chuỗi liên kết sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ chè với diện tích 685 ha, sản lượng 8.664 tấn/năm.

Cây chè đã được tỉnh Lâm Đồng xác định là cây công nghiệp chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là cây xóa đói giảm nghèo và làm giàu của nông dân.

Thời gian qua, việc phát triển sản xuất cây chè trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn mang tính tự phát, không theo quy hoạch; sản lượng chè chế biến không ổn định, chưa chủ động được thị trường, thiếu sản phẩm cao cấp; mối liên hệ giữa doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và người trồng nguyên liệu chưa bền vững… làm giảm hiệu quả kinh tế của cây chè.

Trong khi đó, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của một số nước cũng đã có nhiều thay đổi theo hướng chặt chẽ hơn khi nhập khẩu mặt hàng chè. Đơn cử như Nhật Bản đã có những yêu cầu rất gay gắt đối với dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong chè (yêu cầu kiểm soát trên
140 loại khác nhau); hoặc đối với châu Âu, đặc biệt là Ý và Đức, lại quan tâm nhiều đến vấn đề độc tố Ochratoxin A; còn tại thị trường Úc và Bắc Mỹ lại quan tâm đến sâu, mọt,… Nếu những thị trường này đưa ra các quy chuẩn kỹ thuật trên như là những rào cản kỹ thuật thì các doanh nghiệp sản xuất chè của Lâm Đồng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhất là việc tăng chi phí để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu
của mình.

Chế biến chè Oolong tại Công ty TNHH Tâm Châu
Chế biến chè Oolong tại Công ty TNHH Tâm Châu

Sự suy giảm chung trên mọi mặt của ngành sản xuất và xuất khẩu chè Lâm Đồng thời gian qua bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường. Hầu hết sản lượng chè Oolong đều chỉ xuất khẩu duy nhất vào thị trường Đài Loan (Trung Quốc). Khi đối tác ngừng thu mua và dựng hàng rào kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm đã gây điêu đứng cho ngành sản xuất chè của Lâm Đồng. Theo đó, chè được xuất khẩu vào thị trường Đài Loan phải có tiêu chuẩn hoạt chất Fipronil ở mức 0,002 ppm (mức gần như bằng 0), khắt khe hơn thị trường châu Âu và các thị trường khác với mức 0,005 ppm. Đối với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu chè nước ta, tiêu chuẩn này không khác gì đánh đố bởi nó đòi hỏi gần như tuyệt đối về dư lượng hóa chất trong sản phẩm.

Quy định an toàn đối với sản phẩm chè

Hiện nay, trong sản xuất và sơ chế các sản phẩm an toàn, các giới hạn ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm được quy định tại Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT ngày 19/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”. Quyết định này là giới hạn để xác định sản phẩm an toàn đối với thực phẩm. Từ năm 2007 đến nay, đã có nhiều thay đổi về các hoạt chất được sử dụng trong trồng trọt và chăn nuôi. Chính vì vậy, từ tháng 7/2017, Phần 8 - “Giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm” ban hành kèm Quyết định số
46/2007/QĐ-BYT sẽ được thay thế bằng Thông tư số 50/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 về "Quy định giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm" để phù hợp với yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, qua so sánh với các tiêu chuẩn của Việt Nam, Đài Loan, EU, Codex, có thể thấy quy định về ngưỡng giới hạn tối đa cho phép trên sản phẩm chè của Việt Nam vẫn cao hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn trên thế giới.

.
.

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cũng gặp phải trở ngại đối với sản phẩm xuất khẩu của mình do thiếu các giấy chứng nhận về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001), hệ thống quản lý môi trường (ISO 14000), an sinh xã hội (SA 8000), thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP (Global Agricultural Practices), an toàn vệ sinh thực phẩm theo HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points), ISO 22000,… Vấn đề này cũng là những khó khăn mà các doanh nghiệp cần tháo gỡ để dần nâng cao trình độ sản xuất và năng lực quản lý, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, nâng cao tính cạnh tranh với các sản phẩm trong và ngoài nước, đồng thời vượt qua rào cản kỹ thuật trong thương mại mà các nước nhập khẩu đặt ra.

Giải pháp trong thời gian tới

Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển ngành sản xuất chè phù hợp và mang tính đột phá từ khâu quản lý giống đến kỹ thuật canh tác. Tổ chức sản xuất vùng chè theo quy hoạch; khuyến cáo cải tạo thay thế khoảng 55% tổng diện tích chè già cỗi, năng suất thấp của tỉnh bằng các giống chè có năng suất, chất lượng cao. Thông qua việc ký kết hợp đồng với người nông dân, đưa công nghệ sản xuất chè an toàn theo hướng GAP vào từng nông hộ và từng doanh nghiệp để kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.

Xây dựng mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và người nông dân, giúp nông dân hiểu rõ những việc cần làm; chủ động lấy mẫu phân tích sản phẩm tại các nông hộ được liên kết để có nguồn hàng tốt phục vụ tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu. Đây chính là biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm đầu ra ổn định, tăng hiệu quả sản xuất đối với cây chè.

Đồi chè Cầu Đất
Đồi chè Cầu Đất

Đầu tư đổi mới công nghệ cho một số nhà máy chế biến có công suất tương xứng với quy mô của vùng nguyên liệu; gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu; chú trọng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường.

Nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, xây dựng các thương hiệu mạnh có uy tín trên thị trường xuất khẩu.

Tăng cường công tác nghiên cứu, khảo nghiệm xác định các loại thuốc bảo vệ thực vật thế hệ mới, thuốc sinh học có khả năng phòng trừ hiệu quả các loại sâu, bệnh hại chè. Xây dựng quy trình quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn đối với quy trình trồng chè.

Khuyến cáo kỹ thuật thu hái chè đúng phẩm cấp, đúng quy trình kỹ thuật theo từng giống, mùa vụ, thời kỳ sinh trưởng. Chú trọng khâu bảo quản, vận chuyển và nâng cao chất lượng
sản phẩm,…

Nâng cao trình độ chuyên môn, quản lý của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp. Cử cán bộ kinh doanh ra nước ngoài để vừa nắm bắt, nghiên cứu thị trường, vừa học hỏi kinh nghiệm, đồng thời tạo dựng mối quan hệ thương mại vững chắc.

Mở các lớp tập huấn kỹ thuật cho người trồng chè, chế biến chè theo chương trình khuyến nông và khuyến công.

Các cơ quan quản lý cần có kế hoạch rà soát, đánh giá năng lực thiết bị, công nghệ và khả năng cung cấp nguyên liệu của các cơ sở chế biến chè trên địa bàn. Kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định.

 

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.378.257
  • Đang online: 114
  • Trong tuần: 12.172
  • Trong tháng: 102.321
  • Trong năm: 102.321