Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Một số lưu ý, khuyến cáo khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong sản xuất nông nghiệp
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Nguyễn Lệnh Đổng - Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Lâm Đồng
2019
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Hiện nay, trong sản xuất trồng trọt, để phòng trừ dịch hại nhằm tăng năng suất và sản lượng cây trồng, phần lớn nông dân sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực (BVTV) có nguồn gốc hóa học; tuy nhiên, việc sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học liên tục sẽ làm cho sâu, bệnh tăng khả năng kháng thuốc, gây khó khăn trong việc phòng trừ dịch hại. Đồng thời, gây mất an toàn cho người sử dụng, ảnh hưởng xấu đến môi trường, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, đất đai ngày càng thoái hóa, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn dịch hại tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không thể dự báo trước. Ngoài ra, việc sử dụng các loại thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học liên tục, không theo khuyến cáo còn để lại dư lượng thuốc BVTV trong nông sản, làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Do vậy, xu hướng sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học để thay thế dần thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học đang ngày càng được mở rộng. Thuốc BVTV sinh học là sản phẩm có thành phần hữu hiệu là vi sinh vật sống hoặc chất có nguồn gốc từ vi sinh vật, thực vật, động vật (theo Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật năm 2013).

Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học

Ưu điểm

- Không ảnh hưởng đến đất trồng, chất lượng nông sản.

- Đa số các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học đều thuộc nhóm độc IV, có thời gian cách ly ngắn, rất ít gây độc cho con người, môi trường. Không làm mất nguồn tài nguyên sinh vật có ích như các loại ký sinh thiên địch, vi sinh vật có lợi với con người.

- Thuốc trừ sâu sinh học bảo vệ sự cân bằng sinh học trong tự nhiên (cân bằng giữa thiên địch và sâu hại); ít gây tình trạng bùng phát sâu hại.

- Có độ độc chuyên tính cao, nhưng ít độc với động vật máu nóng; bị phân hủy hoàn toàn trong môi trường.

- Chưa tạo nên tính kháng thuốc của sâu hại.

- Hiệu quả của thuốc thường kéo dài vì chúng không chỉ tiêu diệt trực tiếp lứa sâu đang phá hoại mà còn có thể lây nhiễm cho thế hệ tiếp theo.

Nhược điểm 

- Hiệu lực của thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học (như thuốc trừ sâu vi sinh) thường chậm hơn so với thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học, do thời gian nhiễm vào cơ thể dịch hại từ 1-3 ngày.

- Hiệu quả của thuốc ban đầu không cao.

- Phổ tác dụng của thuốc hẹp.

- Thuốc vi sinh thường có công nghệ sản xuất phức tạp, thủ công nên giá thành cao.

Một số lưu ý khi sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học

- Sử dụng thuốc phải thực hiện theo nguyên tắc “4 đúng”: đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng - nồng độ, đúng cách.

- Không phối trộn thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh với một số thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học để tránh làm giảm hiệu quả của thuốc. Ví dụ:

+ Thuốc trừ sâu vi sinh chứa vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) tuyệt đối không được pha chung với các thuốc trừ nấm có tính kiềm, thuốc chứa gốc đồng hoặc kháng sinh (Kasugamycin) vì những chất này có thể diệt chết vi khuẩn Bt.

+ Có thể pha chung thuốc trừ sâu vi sinh chứa nấm Beauveria bassiana và Metarhium anisopliae Sorok với các thuốc trừ sâu khác, nhưng không pha chung với thuốc trừ bệnh.

Một số loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học

Thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh

Thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh trừ sâu

- Nhóm thuốc từ vi khuẩn: phổ biến nhất hiện nay là thuốc chiết xuất từ chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt); là thuốc trừ sâu có tác động đường ruột; không có tác động tiếp xúc, xông hơi và nội hấp. 

Khi vào cơ thể côn trùng, các tinh thể nội độc tố bị hòa tan, hủy hoại các tế bào biểu mô ruột làm côn trùng chán hay ngừng ăn và dẫn đến chết. Côn trùng đã bị nhiễm Bt thường chết chậm. Các bào tử của Bt có thể tồn tại đến 1 năm hoặc lâu hơn trong môi trường. 

Bt được khuyến cáo sử dụng để phòng trừ một số loại côn trùng như sâu non bộ Cánh vảy (sâu tơ hại cải); các loại sâu non cánh vảy khác hại bông, đậu nành, cây ăn quả, cây công nghiệp (thuốc lá). 

Bt không gây hại các loài thiên địch, nhưng có thể gây độc cho tằm. 

Thuốc trừ sâu Bacillus thuringiensis có 4 chủng (Bacillus thuringiensis var. 7216; Bacillus thuringiensis var. T36; Bacillus thuringiensis var. aizawa; Bacillus thuringiensis var. kurstaki); 5 dạng hỗn hợp.

- Nhóm thuốc từ nấm: hiện nay, có 2 loại nấm thông dụng là Beauveria bassianaMetarhium anisopliae Sorok, có thể xâm nhập trực tiếp qua biểu bì côn trùng, dùng men bẻ gãy chitin và protein ở biểu bì, sản sinh ra các chất chuyển hóa, làm sâu chết.

+ Nấm Beauveria bassiana (còn gọi là nấm trắng): ký sinh trên cơ thể sâu non bộ Cánh vảy. Dùng phòng trừ sâu đục thân trên lúa, ngô; sâu xanh da láng hại cà chua; bọ xít, rầy nâu hại lúa; sâu róm hại thông.

+ Nấm Metarhium anisopliae Sorok (còn gọi là nấm xanh): có khả năng ký sinh trên nhiều loài côn trùng gây hại thuộc bộ Cánh vảy, Cánh cứng,…

- Nhóm virus trừ sâu: virus xâm nhập vào ruột mới gây hại cho côn trùng; virus tác động vào hạch tế bào ruột giữa và gây chết côn trùng khi bị lây nhiễm. Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng NPV (nuclear polyhedrosis virus) trừ sâu xanh Helicoverpa armigera hại bông, thuốc lá; sâu đo Anomis flava hại đay; sâu róm hại thông...

- Nhóm thuốc có nguồn gốc từ sự lên men xạ khuẩn:

+ Nhóm thuốc Avermectin: do vi khuẩn Streptomycin avermitilis sản sinh, gồm 2 chất Avermectin B1a và Avermectin B1b. Có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu miệng nhai, miệng chích hút thuộc các bộ Cánh vảy, Hai cánh, Cánh đều (như sâu vẽ bùa, đục thân, quả,...) và nhện. Chúng tác động đến côn trùng và nhện bằng con đường tiếp xúc và vị độc; nội hấp yếu.

+ Nhóm thuốc Abanectin và Emamectin: có tác động diệt sâu qua đường tiếp xúc, vị độc và có khả năng thấm sâu, hiệu lực diệt sâu nhanh và mạnh. Thuốc có phổ tác dụng rộng, phòng trừ được nhiều loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện gây hại các loại cây trồng (rau, hoa, một số cây ăn quả, cây công nghiệp).

+ Methylamine Avermectin: sản xuất từ vi khuẩn Streptomycin avermitilis. Có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu miệng nhai và miệng chích hút thuộc các bộ Cánh vảy, Hai cánh, Cánh đều và nhện.

+ Spinosad: là chế phẩm được sản xuất bằng phương pháp lên men dịch khuẩn nấm Saccharopolyspora spinosa. Dùng phòng trừ bọ xít hôi, bọ trĩ, rầy nâu, sâu cuốn lá, sâu keo hại lúa; sâu tơ, sâu xanh, bọ nhảy, rệp muội hại bắp cải; sâu xanh, dòi đục lá, sâu khoang hại cà chua;...

+ Spinetoram: có nguồn gốc từ nấm Saccharopolyspora spinosa. Đặc tính và công dụng như Spinosad. Dùng phòng trừ sâu xanh da láng trên hành, lạc, đậu tương; dòi đục lá, sâu đục quả, bọ trĩ trên cà chua;...

- Tuyến trùng trừ sâu: 

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng tuyến trùng trừ côn trùng trong đất. Ngay sau khi vào đất, tuyến trùng phân tán và tấn công ngay côn trùng. Tuyến trùng xâm nhập trực tiếp vào cơ thể côn trùng hoặc qua đường thức ăn, lỗ thở và hậu môn côn trùng. Ở trong ruột côn trùng, chúng chui qua vách ruột, đi vào hệ tuần hoàn. Ở đây, truyến trùng sinh trưởng và phát triển khá nhanh, gây chết cho côn trùng trong 1-2 ngày.

Tuy nhiên, do điều kiện bảo quản chế phẩm thuốc trừ sâu từ tuyến trùng còn nhiều hạn chế nên tại Việt Nam, hiện nay, chưa sử dụng tuyến trùng trừ sâu.

Thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh trừ bệnh

- Nhóm thuốc kháng sinh trừ bệnh: là những sản phẩm do sinh vật sản sinh ra có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn và nấm gây bệnh cho cây trồng. Hiện nay, có một số hoạt chất thuốc kháng sinh như:

+ Ningnanmycin: do nấm Streptomyces noursei var. xichangensis lên men tạo thành. Đối với sinh vật gây hại, Ningnanmycin kìm hãm quá trình sinh trưởng của nấm và vi khuẩn, ngăn cản sự hình thành của vách tế bào nấm, bào tử dẫn đến vách tế bào của nấm bệnh và nguyên sinh chất của vi khuẩn không được hình thành. Sử dụng Ningnanmycin để phòng trừ các loại bệnh như đốm lá, sương mai, héo rũ trên bắp cải, cải xanh, cà chua, bí đao; lở cổ rễ, khô thân trên dưa hấu; thán thư trên ớt; héo rũ trên lạc; thán thư, sẹo trên cam, chanh; thối quả trên nho, xoài; phồng lá trên chè; thối mạ, lúa von trên lúa; thán thư, phấn trắng trên nho, xoài; thối nhũn trên hành, tỏi; khô bông, thán thư trên điều; rụng quả, rỉ sắt trên cà phê; chết chậm, chết nhanh trên hồ tiêu…

+ Validamycin A: sản xuất bằng sự lên men của nấm Streptomyces hygroscopicus var. limoneus. Có tác dụng phòng trừ bệnh khô vằn hại lúa; nấm hồng ở cao su; lở cổ rễ ở rau cải, cà chua, ớt, bí xanh, dưa hấu, dưa chuột, đậu tương, thuốc lá; bệnh khô cành ở cà phê,...

+ Kasugamycin: sản xuất bằng sự lên men của nấm Streptomyces kasugaensis., kìm hãm sợi nấm phát triển, sự nảy nầm của bào tử, hình thành các giác bám trên bề mặt hay làm giảm sự xâm nhập của nấm vào tế bào biểu bì. Có tác dụng phòng trừ bệnh do nấm, vi khuẩn gây ra như đạo ôn, đốm sọc, bạc lá, lem lép hạt ở lúa; thối nhũn trên rau, bắp cải;…
+ Streptomycin sulfate: sản xuất bằng sự lên men của nấm Streptomycin Griseus. Thuốc có tác dụng trừ bệnh thối nhũn ở bắp cải; bạc lá, lem lép hạt ở lúa; sẹo ở cam; giả sương mai ở dưa chuột.

+ Tetramycin: là loại kháng sinh gây ức chế sự phát triển của nấm và vi khuẩn. Dùng phòng trừ các bệnh bạc lá, đạo ôn, khô vằn, lem lép hạt ở lúa; thối nhũn, thối đen gân lá ở bắp cải; chết xanh ở dưa hấu; héo rũ ở thuốc lá, cà phê, cà chua; loét ở cam; thối thân ở nho; phấn trắng ở hoa hồng; vàng rụng lá ở cao su.

- Các loại nấm và vi khuẩn ký sinh trừ bệnh

+ Các loại vi khuẩn trừ bệnh gồm: Bacillus subtilis, Streptomyces lydicus, Pseudomonas fluorescens.

+ Nấm ký sinh trừ bệnh chủ yếu là Trichoderma - một loài nấm trong đất, phát triển nhiều trên đất giàu dinh dưỡng và trên tàn dư thực vật; là loại nấm đối kháng quan trọng đối với nấm bệnh. Khi phát triển, nấm Trichoderma quấn lấy sợi nấm bệnh và tiết ra độc tố, làm nấm bệnh không phát triển được và chết. Dùng phòng trừ các bệnh thối gốc, thối hạch, lở cổ rễ ở bắp cải; héo vàng, lở cổ rễ, mốc sương ở cà chua, khoai tây; thối nhũn, đốm lá ở hành; thán thư ở xoài; xì mủ ở sầu riêng; rỉ sắt, nấm hồng, thối gốc rễ, lở cổ rễ ở cà phê; chấm xám, thối búp ở chè; chết nhanh, thối gốc rễ ở hồ tiêu.

Thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc

Thuốc trừ sâu

Đa phần là các loại thuốc chứa hoạt chất Matrine (từ cây khổ sâm), Azadirachtin (từ cây Neem), Rotenone (từ cây thuốc cá). Các chất này có hiệu lực diệt sâu nhanh, phổ tác dụng rộng, phòng trừ nhiều loại sâu hại cây trồng. Thuốc diệt côn trùng bằng con đường tiếp xúc, vị độc và xông hơi. Tác động lên hệ thần kinh, gây tê liệt và làm chết côn trùng.

Thuốc trừ bệnh

- Dẫn xuất Acid Salicylic: có khả năng nội hấp, tăng cường sức đề kháng của cây trồng. Phòng trừ các bệnh khô vằn, đạo ôn/lúa; chảy mủ do Phytophthora/cây có múi; lở cổ rễ/hồ tiêu; lở cổ rễ, thân do nấm/cà phê.

- Citrus oil: có khả năng phòng trừ các bệnh thối búp/chè; thán thư/ớt; bọ trĩ, sâu xanh da láng/nho; phấn trắng/bầu, bí; bọ phấn/cà chua; bọ nhảy/cải; sâu tơ/bắp cải; bọ xít muỗi, sâu cuốn lá/chè;…

- Tổ hợp dầu thực vật (dầu màng tang, sả, hồng, hương nhu, chanh): dùng phòng trừ bệnh đạo ôn, bạc lá, lem lép hạt, đốm sọc vi khuẩn, khô vằn/lúa; mốc sương/cà chua;…

Thuốc BVTV dẫn dụ côn trùng

Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học dẫn dụ côn trùng là các chất trong tự nhiên chiết xuất từ thực vật, axít béo dùng kiểm soát dịch hại bằng các cơ chế không độc. Có tác dụng dẫn dụ, xua đuổi, triệt sản hoặc điều khiển quá trình sinh trưởng của côn trùng. Dùng phòng trừ gián tiếp côn trùng gây hại với liều lượng rất nhỏ. Ví dụ: 

- Metyl eugenol (có trong tinh dầu hương nhu): dùng dẫn dụ ruồi đục quả hại mận, dưa hấu, nhãn, ổi, thanh long, cây có múi.

- Protein thủy phân: là chất dẫn dụ ruồi trưởng thành tập trung đến ăn, từ đó bị nhiễm độc mà chết. Dùng diệt trừ ruồi hại quả trên cây có múi, mận, đào, ổi, vải, hồng, thanh long, táo, lê, đu đủ, khế, mãng cầu, quất hồng bì, mướp, mướp đắng, hồng xiêm, gấc, bí đỏ, trứng gà, bí xanh, cà, ớt.

Số 04/2019

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.599.678
  • Đang online: 90
  • Trong tuần: 289
  • Trong tháng: 289
  • Trong năm: 323.742