Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Nghiên cứu đánh giá khả năng thích nghi của cá Trắng châu Âu (Coregonus lavaretus) tại Lâm Đồng
Ấn phẩm KHCN
Khoa học công nghệ
Phan Đinh Phúc, Nguyễn Anh Tiến, Lê Văn Diệu - Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III
2020
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Mở đầu

Cá Trắng châu Âu có thể sinh trưởng và phát triển ở cả môi trường nước ngọt và nước lợ; tuy nhiên, hiện nay, cá chủ yếu được nuôi trong thủy vực nước ngọt. Cá thích nghi với môi trường nước sạch, có dòng chảy nhẹ và hàm lượng ôxy hòa tan cao. Môi trường sống của cá Trắng tương tự như cá Hồi vân hiện đang được nuôi tại Lâm Đồng, nhưng chúng có thể sinh trưởng ở khoảng nhiệt độ rộng và cao hơn cá Hồi vân. Khoảng nhiệt độ thích nghi của cá Trắng từ 1-26oC, nhiệt độ tối ưu khoảng 15-18oC. Theo Quy hoạch chi tiết phát triển cá nước lạnh giai đoạn 2010-2020, tại Lâm Đồng, có 3 vùng quy hoạch nuôi cá Hồi là thành phố Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đam Rông (Võ Thế Dũng và ctv, 2011). Như vậy, về cơ bản, có thể thử nghiệm nuôi cá Trắng châu Âu tại thành phố Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Đam Rông.

Hình 1. Cá Trắng châu Âu Coregonus lavaretus  (Linnaeus, 1758)
Hình 1. Cá Trắng châu Âu Coregonus lavaretus (Linnaeus, 1758)

Lâm Đồng là tỉnh có tiềm năng lớn cho việc phát triển nghề nuôi cá nước lạnh. Từ năm 2006 đến nay, việc phát triển cá Tầm và cá Hồi vân ngày càng được mở rộng về quy mô, diện tích. Nhằm khai thác hiệu quả hơn nguồn tài nguyên nước lạnh của tỉnh, bổ sung thêm đối tượng nuôi phù hợp và có giá trị kinh tế cao, giảm sức ép của nghề nuôi cá nước lạnh lên 2 đối tượng cá Tầm và cá Hồi vân, góp phần nâng cao giá trị mang lại của nghề nuôi cá nước lạnh, tăng thêm thu nhập cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế cho những vùng nuôi cá nước lạnh, năm 2016, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng đã giao Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thực hiện đề tài “Nghiên cứu nuôi thử nghiệm cá Trắng châu Âu (Coregonus lavaretus) tại tỉnh Lâm Đồng”. 

Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tên khoa học: Coregonus lavaretus  (Linnaeus, 1758); tên tiếng Anh: European whitefish; tên tiếng Việt: cá Trắng, cá Trắng châu Âu.

Thí nghiệm nuôi cá Trắng châu Âu tại tỉnh Lâm Đồng

Bố trí thí nghiệm

- Thời gian thí nghiệm: 5 tháng, từ tháng 4/2018 (thả cá giống) đến tháng 8/2018 (thu hoạch và đánh giá).

- Địa điểm, công trình và thiết bị nuôi:

+ Địa điểm nuôi:

Địa điểm 1: Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung, xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Địa điểm 2: Trang trại nuôi cá nước lạnh của Công ty TNHH Ngọc Mai Trang, xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Địa điểm 3: Trạm Nghiên cứu cá nước lạnh Tây Nguyên, xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

+ Nguồn nước nuôi tại 2 địa điểm ở huyện Lạc Dương là nguồn nước suối; tại huyện Đức Trọng là nước giếng đào.

+ Sử dụng hệ thống nuôi nước chảy.     

+ Công trình nuôi: bể hình chữ nhật, thể tích 10 m3, độ sâu 1,2-1,4 m, có van cấp/thoát nước riêng biệt; mỗi địa điểm nuôi 3 bể. Bể được vệ sinh sạch sẽ, sát trùng bằng formol 10%, cấp nước đầy 1-1,2 m.

- Chọn và thả cá giống:

Cá giống mua từ Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản nước lạnh Sa Pa, với cỡ giống 3-5 g/con. Cá giống khỏe mạnh, bắt mồi tốt, màu sắc tươi sáng, vận động và phản xạ tốt, không mang các dấu hiệu bị bệnh như trầy da, đốm đỏ,...

Bảng 1. Một số thông số thí nghiệm nuôi cá Trắng tại Lâm Đồng
Bảng 1. Một số thông số thí nghiệm nuôi cá Trắng tại Lâm Đồng

- Quản lý và chăm sóc:

 + Thức ăn: nghiên cứu sử dụng 100% thức ăn viên công nghiệp chuyên dùng cho cá Tầm; giai đoạn cá có khối lượng ≤ 50 g, cho ăn thức ăn với hàm lượng protein > 50%. Kích cỡ viên và hàm lượng protein của thức ăn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cá.

 + Phương pháp cho ăn: cho thức ăn trực tiếp vào bể nuôi. Tỷ lệ thức ăn cho cá dao động từ 2-4% tổng khối lượng đàn cá/ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc 7 giờ và 17 giờ; mỗi lần ăn với tỷ lệ 50% lượng thức ăn trong ngày.

+ Chăm sóc quản lý: vệ sinh bể nuôi 3-5 ngày/lần; kiểm tra mức độ sử dụng thức ăn của cá sau 2 giờ cho ăn để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp. Phòng bệnh cho cá nuôi bằng cách bổ sung các chất khoáng, vitamin, dầu mực, dầu cá vào thức ăn theo định kỳ 1 ngày/tuần để tăng sức đề kháng cho cá nuôi.

Đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống

Thu mẫu cá khi thả; định kỳ sau thả 30 ngày, thu một lần; mỗi lần thu 30 mẫu/bể hoặc ao nuôi. Cá được cân khối lượng từng cá thể bằng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01 g đối với cá nhỏ và 0,1 g với cá lớn. Đo chiều dài toàn thân, chiều cao thân bằng thước chính xác đến mm.

Theo dõi các yếu tố môi trường

Các yếu tố môi trường nước được kiểm tra hàng ngày (nhiệt độ, pH) hay theo định kỳ (hàm lượng ôxy hòa tan (DO), H2S, NH3) vào lúc 7 giờ và 13 giờ khi có sự thay đổi môi trường đột ngột.

Theo dõi các bệnh thường gặp

- Theo dõi tình hình dịch bệnh của cá nuôi bằng phương pháp quan sát và chẩn đoán các dấu hiệu bên ngoài, đồng thời thu mẫu phân tích tại phòng thí nghiệm.

- Thu mẫu có chọn lọc, chỉ thu những con có dấu hiệu bệnh lý như lở loét, đen da, trướng bụng, cá ở những ao/bể/lồng có hiện tượng chết nhiều không rõ nguyên nhân… để phục vụ nghiên cứu; thu tối thiểu 30 cá thể/tháng.

- Phương pháp xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm:

Mẫu cá mang về được xử lý ngay, trước hết quan sát, đo chiều dài, ghi chép các hiện tượng không bình thường trên cá như màu sắc cá, vây, vảy, các vết loét, điểm xuất huyết.

+ Phương pháp nghiên cứu thành phần ký sinh trùng có khả năng gây bệnh ở cá Trắng: dựa theo phương pháp nghiên cứu toàn diện của Dolgiel (1969) (Võ Thế Dũng và Trần Thị Bạch Dương, 2011; Võ Thế Dũng và cộng sự, 2014).

+ Phương pháp nghiên cứu thành phần vi khuẩn có khả năng gây bệnh ở cá Trắng: sử dụng phương pháp nghiên cứu bệnh vi khuẩn ở cá và động vật thủy sản của Frerichs (1993) (Võ Thế Dũng và Trần Thị Bạch Dương, 2011; Võ Thế Dũng và cộng sự, 2014). 

Kết quả nghiên cứu

Biến đổi về một số yếu tố môi trường trong quá trình nuôi thí nghiệm

Trong thời gian nuôi thí nghiệm cá Trắng châu Âu tại:

- Địa điểm 1 (xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng): nhiệt độ nước trung bình từ 22,2-22,5oC, biến thiên từ 21-24oC. Nhiệt độ nước thấp nhất trong quá trình nuôi thí nghiệm là 21oC, cao nhất là 24oC. Sự chênh lệch về nhiệt độ trong ngày không nhiều (< 3oC). Cá Trắng châu Âu chịu đựng được nhiệt độ từ 1-24oC; tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp với sự phát triển của cá Trắng là từ 15-18oC (Koskela, 2004; Szczepkowski et al, 2006; Siikavuopio et al., 2013). Trong thời gian nuôi thí nghiệm, nhiệt độ nước ở ngưỡng cao (21-24oC) nên ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển của cá Trắng châu Âu. Độ pH dao động từ 6,2-6,7; tương đối phù hợp với quá trình phát triển của cá Trắng châu Âu. Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước trung bình từ 6,3-6,4 mg/L, hoàn toàn thích hợp với sự phát triển của cá Trắng châu Âu.

- Địa điểm 2 (xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương): nhiệt độ nước trung bình từ 17,1-18,8oC. Nhiệt độ nước thấp nhất trong quá trình nuôi thí nghiệm là 14,7oC, cao nhất là 20oC; độ pH dao động từ 7,0-7,6; hàm lượng ôxy hòa tan trong nước trung bình từ 7,2-7,3 mg/L, vì vậy, hoàn toàn nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của cá Trắng châu Âu.

Bảng 2. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường nước tại 3 địa điểm nuôi thí nghiệm
Bảng 2. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường nước tại 3 địa điểm nuôi thí nghiệm

- Địa điểm 3 (xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương): nhiệt độ nước trung bình từ 16,2-18,0oC. Nhiệt độ nước thấp nhất trong quá trình nuôi thí nghiệm là 14oC, cao nhất là 19oC; hàm lượng ôxy hòa tan trong nước trung bình từ 6,0-6,3 mg/L, hoàn toàn thích hợp với sự phát triển của cá Trắng châu Âu. Độ pH dao động từ 5,0-5,5; hơi thấp so với ngưỡng thích hợp với quá trình phát triển của cá Trắng châu Âu.

Nhận xét chung

Giữa các địa điểm nuôi thí nghiệm, yếu tố về nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan là có sự khác nhau. Địa điểm 1 tại xã Hiệp Thạnh (huyện Đức Trọng) có nhiệt độ cao nhất, trung bình 22,3-22,7oC; thấp nhất là ở Klong Klanh (xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương), trung bình 16-18oC. Nhiệt độ nước tại địa điểm 2 (xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương) cao hơn tại Klong Klanh nhưng không nhiều (trung bình 18-19,1oC). Tại địa điểm 1, các bể nuôi cá thí nghiệm đặt trong nhà có mái che và tường bao, sử dụng nguồn nước giếng nên nhiệt độ nước luôn duy trì ổn định trong suốt thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, nhiệt độ ở ngưỡng cao nên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sự tăng trưởng của cá Trắng châu Âu trong quá trình nuôi thí nghiệm.

Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) có sự khác biệt giữa các địa điểm nuôi thí nghiệm và luôn duy trì ở mức > 5 mg/L. Tại điểm nuôi Hiệp Thạnh, hàm lượng ôxy hòa tan duy trì ổn định ở mức 6 mg/L trong suốt thời gian nuôi thí nghiệm, do bể nuôi được sục khí, có dòng chảy nhẹ liên tục, hàm lượng ôxy hòa tan được kiểm soát thông qua việc điều chỉnh sục khí trong suốt thời gian nuôi. Tại các địa điểm nuôi Klong Klanh, Đạ Nhim, hàm lượng ôxy hòa tan ở mức  trung bình 5,2-5,7 mg/L trong suốt thời gian nuôi thí nghiệm; nguồn nước được lấy trực tiếp từ suối tự nhiên, cho dòng chảy liên tục qua bể nuôi thí nghiệm với mức độ thay nước 300-500%/ngày, vì vậy, hàm lượng ôxy hòa tan cũng phù hợp với đối tượng nuôi.

Các bể nuôi thí nghiệm ở các địa điểm nuôi đều có dòng chảy liên tục và mức độ thay nước 200-500% ngày, đồng thời các bể nuôi thí nghiệm ở Đức Trọng có thêm sục khí liên tục, do đó, hàm lượng các chất khí độc trong nước nuôi luôn được kiểm soát và duy trì ở mức rất thấp và an toàn đối với cá nuôi.

Tăng trưởng của cá Trắng ở giai đoạn nuôi thí nghiệm, đánh giá sự thích nghi của cá Trắng châu Âu

Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Trắng châu Âu tại các địa điểm nghiên cứu từ tháng 4-8/2018
Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá Trắng châu Âu tại các địa điểm nghiên cứu từ tháng 4-8/2018

Từ bảng 3 cho thấy, chiều dài trung bình của cá Trắng châu Âu đưa vào nuôi thí nghiệm ở địa điểm 1 là 8,5 cm; địa điểm 2 là 9,47 cm; địa điểm 3 là 8,5 cm. Sau 150 ngày nuôi, chiều dài trung bình của cá ở địa điểm 1 là 16,64 cm; địa điểm 2 là 17,7 cm; địa điểm 3 là 17,48 cm.

Tốc độ tăng trưởng chiều dài cá trắng châu Âu tại địa điểm 1 là 0,05 cm/ngày; thấp nhất so với 2 địa điểm còn lại (0,06 cm/ngày). Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài cá tại địa điểm 1 là 0,45%/ngày; địa điểm 2 là 0,49%/ngày; địa điểm 3 là 0,48%/ngày.

Bảng 4. Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Trắng châu Âu tại các địa điểm nghiên cứu từ tháng 4-8/2018
Bảng 4. Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Trắng châu Âu tại các địa điểm nghiên cứu từ tháng 4-8/2018

Từ bảng 4 cho thấy, khối lượng trung bình của cá Trắng châu Âu đưa vào nuôi thí nghiệm ở địa điểm 1 là 3,73 g; địa điểm 2 là 3,78 g; địa điểm 3 là 3,73 g. Sau 150 ngày nuôi, khối lượng trung bình của cá ở địa điểm 1 là 37,66 g; địa điểm 2 là 44,64 g; địa điểm 3 là 42,35 g. Qua kiểm định thống kê, khối lượng của cá khi thu hoạch tại 3 địa điểm đều khác nhau, có ý nghĩa thống kê.

Tốc độ tăng trưởng về khối lượng cá Trắng châu Âu tại địa điểm 1 là 0,23 g/ngày; địa điểm 2 là 0,27 g/ngày; địa điểm 3 là 0,26 g/ngày. Tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài cá Trắng tại địa điểm 1 là 1,93%/ngày; địa điểm 2 là 2,08%/ngày; địa điểm 3 là 2,02%/ngày.

Bảng 5. Tỷ lệ sống, sản lượng, năng suất của thí nghiệm nuôi cá Trắng châu Âu
Bảng 5. Tỷ lệ sống, sản lượng, năng suất của thí nghiệm nuôi cá Trắng châu Âu

Từ bảng 5 cho thấy, tỷ lệ sống ở địa điểm 1 là thấp nhất và khác biệt rõ rệt so với các địa điểm còn lại (65%). Tỷ lệ sống của cá nuôi tại địa điểm 2 là 85%; địa điểm 3 là 84%. Năng suất của địa điểm 1 là 0,49 kg/m3; địa điểm 2 là 0,76 kg/m3; địa điểm 3 là 0,71 kg/m3.

Trong quá trình nuôi thí nghiệm, tỷ lệ sống, sản lượng và năng suất nuôi của địa điểm 1 đều thấp hơn nhiều so với 2 địa điểm còn lại, có thể do nhiệt độ nước của địa điểm 1 cao hơn so với 2 địa điểm còn lại và nằm ngoài khoảng thích nghi so với sự phát triển của cá Trắng châu Âu.

Kết quả theo dõi về bệnh cá Trắng châu Âu

Qua theo dõi cá trực tiếp tại các điểm nuôi thí nghiệm và phân tích mẫu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, các bệnh thường gặp ở cá Trắng châu Âu gồm:

- Bệnh xuất huyết: xuất huyết trên thân, gốc vây, quanh miệng. Một số cá thể bị nấm bám ở những chỗ xuất huyết. Một số con bị xuất huyết ở gan. Cá bỏ ăn, ruột và dạ dày không có thức ăn. Chết rải rác.

- Bệnh mòn vây, mất nhớt: các vây bị mòn dần, tưa ra. Da bị mất nhớt. Cá bơi lung tung, khó chịu.

- Bệnh phồng nắp mang, thối mang: nắp mang phồng lên. Mang bị thối rửa, có thể lở thành miếng. Các tơ mang bị đứt rời. Hô hấp khó khăn, cá thường phồng mang lên để thở.

Kết luận

Qua đánh giá khả năng thích nghi cho thấy, cá Trắng châu Âu có thể nuôi ở điều kiện khí hậu của huyện Lạc Dương; không thích nghi với điều kiện khí hậu của huyện Đức Trọng và những vùng có khí hậu tương tự.

Chiều dài cá Trắng châu Âu đưa vào nuôi thí nghiệm ở 3 địa điểm dao động từ 7,5-9,4 cm; khối lượng trung bình 2,3-5,3 g. Sau 150 ngày nuôi, chiều dài trung bình của cá ở địa điểm 1 là 16,64 cm, địa điểm 2 là 17,7 cm, địa điểm 3 là 17,48 cm; khối lượng trung bình của cá ở địa điểm 1 là 39,71 g, địa điểm 2 là 44,64 g, địa điểm 3 là 42,35 g.

Trong quá trình nuôi thí nghiệm, giai đoạn 3-50 g, phát hiện một số bệnh thường gặp trên cá Trắng châu Âu như xuất huyết, ăn mòn vây, thối mang. Các tác nhân gây bệnh chỉ phát hiện trên một số ít cá thể chết. Bệnh không bột phát do cá thường xuyên được tắm nước muối khi phát hiện ra các tác nhân gây bệnh.

Số 6/2020

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.989.008
  • Đang online: 227
  • Trong tuần: 15.161
  • Trong tháng: 53.978
  • Trong năm: 713.072