Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Rau Đà Lạt
Du lịch Lâm Đồng
Du lịch
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 200
2008
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Du khách khi rời Đà Lạt thường mua một số nông đặc sản của địa phương về làm quà cho người thân. Dưới đây xin giới thiệu một số giống rau đặc sản của Đà Lạt đã và đang là sự ưa chuộng của du khách bốn phương khi đến đây.

Cải bắp

Cây cải bắp có tên khoa học là Brassica oleracea var. capitata L. (họ Curcifereae), còn được gọi là bắp sú (chou pommé) được trồng trọt phổ biến tại Đà Lạt vào những năm 1940. Đây là cây rau chiếm diện tích canh tác chủ yếu trong các cây rau được trồng trọt tại Đà Lạt trước đây và hiện nay. Các địa phương có sản xuất nông nghiệp của Đà Lạt đều có trồng cải bắp, nhất là phường 5, 7, 8, 11, 12.

Có nhiều giống cải bắp được trồng trọt tại Đà Lạt, xuất phát từ các công ty hạt giống Nhật Bản (Takii Seed, Tokita, Tohoku,...), Pháp (Paris), Mỹ (Peto seed), trong đó giống cải bắp của Nhật Bản được trồng nhiều nhất vì thích hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Đà Lạt, có khả năng kháng được một số loại nấm bệnh phổ biến, năng suất cao và ổn định.

Giống chủ yếu được trồng từ những năm 1960-1975 là giống của hãng Takii và Tokita như giống NS-cross, KY,KK-cross, OS-cross, AS-cross, MS-cross,…

Giống được trồng từ sau 1975 : NS-cross (Takii).

Giống được trồng từ 1985 đến nay: Shogun (Tohoku), Green Coronet (Takii), Green Crown (Tokita).

Các giống đã được trồng thử nghiệm tại Đà Lạt: T70, A72, A90, Resit Lake, Dragon, Paris, Grand 11, Early Shogun, N0 5,…

Cải bắp trồng tại Đà Lạt có phẩm chất cao hơn ở những nơi khác trong nước. Thời gian gieo trồng phụ thuộc vào đặc tính giống ngắn ngày hay dài ngày. Các giống trồng trước 1975 thường có thời gian gieo trồng 160 – 175 ngày (kể cả gieo giống), các giống ngắn ngày có thời gian gieo trồng 95-110 ngày. Cây cải bắp được trồng quanh năm tại Đà Lạt, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Năng suất bình quân trong vụ đông xuân có thể đạt đến 900-1.100 tạ/ha, vụ hè thu đạt 600-750 tạ/ha.

Cải thảo

Cải thảo có tên khoa học là Brassica Pe-tsai Bailey L. (họ Crucifereae), còn gọi là cải bắc thảo. Đây cũng là cây rau trồng trọt phổ biến tại Đà Lạt trong thời gian đầu phát triển ngành trồng rau Đà Lạt (1940). Tương tự như cải bắp, cải thảo là một cây rau thích hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của Đà Lạt và dễ canh tác nên được sản xuất với quy mô khá lớn (bình quân hiện nay từ 250-350 ha gieo trồng/năm). Hầu hết các địa phương đều có trồng cải thảo nhưng sản xuất tốt nhất là khu vực Thái Phiên (phường 12) và khu Nguyên Tử Lực (phường 8).

Các giống trồng trọt có xuất xứ từ các nước Nhật, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, trong đó giống cải thảo của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan được ưa chuộng hơn.

Các giống cải thảo được trồng trọt phổ biến từ 1960-1970 là:

• Champion, Nagaoka King, Ideal Market, 60 days, Wonder Cron: giống của hãng Takii Seed (Nhật Bản).

• Crown, Pungchu, Karah New N01: giống của hãng Cheong Ang Seed (Hàn Quốc).

• Myojyo: giống của hãng Mikado Seed (Nhật Bản).

• New Bulam: giống của hãng Heong Nong Seed (Hàn Quốc).

Các giống cải thảo được trồng trọt từ 1975 đến nay (Chorus, Tempest, Tokita Kingdom, Green Rocket, T65, 304, TN35,… hầu hết đều có xuất xứ từ các công ty giống của Nhật Bản (Takii, Tokita, Trang Nông). 
Cải thảo cũng được trồng trọt quanh năm tại Đà Lạt, nhưng tập trung vào vụ đông xuân hàng năm vì dễ trồng, ít sâu bệnh và năng suất cao. Thời gian gieo trồng cũng phụ thuộc vào đặc tính giống. Giống dài ngày có thời gian gieo hạt và trồng ngoài vườn 100-110 ngày, giống ngắn ngày 80-95 ngày. Thông thường, với cùng một giống, nếu trồng trong vụ hè thu, tại Đà Lạt, sẽ có thời gian thu hoạch ngắn hơn vụ đông xuân 7-10 ngày. Năng suất bình quân 500-600 tạ/ha.

Cải bông

Cải bông còn gọi là sú lơ (chou-fleur), có tên khoa học là Brassica oleracea var. Botrytis L., xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải, được trồng trọt tại Đà Lạt vào những năm 1940, cùng thời điểm với các cây họ Cải. Cải bông có những đặc tính trồng trọt như cải bắp, diện tích canh tác hàng năm chiếm tỷ lệ khoảng 10%. Hầu hết các địa phương trong thành phố đều có trồng cải bông. Các địa phương canh tác nhiều là phường 4, 5, 7, 8, 9, 11 và phường 12. Cây cải bông thích hợp trồng trong vụ đông xuân hàng năm nhưng hiện nay đã được nhân dân canh tác quanh năm với nhiều chủng loại khác nhau. Giống trồng trọt xuất phát từ giống của Pháp, Nhật, Mỹ.

Giống trồng trọt từ 1960: Fengshan Late của Đài Loan

Giống trồng trọt từ 1975: Ngoài những giống đã có còn có thêm giống Tứ Thời được đưa vào từ miền Bắc.

Giống trồng trọt từ những năm 1990:

- Cải bông trắng: Snowball-Early, Alba, White Flash, Snow Crown, Snow King 65, Snow Prince, Snow March,…

- Cải bông xanh: Avella, Souther Star, 1919F1-Thiram.

Các giống trồng trọt có từ trước những năm 1960 hiện nay đã trở thành giống địa phương (người sản xuất có thể tự để giống và sử dụng cho vụ sau). Giống này do người Pháp phổ biến có đặc tính dài ngày và chín không đồng đều nên thời gian thu hoạch kéo dài 1-2 tháng.

Thời gian gieo trồng một vụ cải bông trắng, nếu trồng giống địa phương, kéo dài 150-180 ngày. Đối với những giống mới nhập nội trong những năm 1990 thời gian gieo trồng khoảng 90-120 ngày. Hiện nay đã có nhiều giống ngắn ngày với thời gian canh tác khoảng 75-90 ngày (cải bông xanh).

Năng suất của cải bông trắng 750 - 900 tạ/ha, cải bông xanh 60-80 tạ/ha.

Nhờ có chứa nhiều chất betacaroten và vitamin nên cải bông (nhất là cải bông xanh) cung cấp những chất quan trọng cho phụ nữ trong quá trình mang thai. Phụ nữ ăn nhiều bông cải sẽ giảm 50% nguy cơ bị ung thư dạ con.

Khoai tây

Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L. (họ Solanaceae). Khoai tây là một loại cây lương thực có giá trị cao, đã được trồng thử nghiệm tại Đà Lạt từ những năm đầu khai phá và nhanh chóng trở thành một cây trồng chủ yếu, mang tính đặc thù của nông sản Đà Lạt. Khoai tây được trồng ở nhiều địa phương trong thành phố, tập trung nhiều ở các phường 4, 5, 7, 10, 11, xã Xuân Thọ và xã Xuân Trường.

Từ 1980 trở về trước, cây khoai tây chỉ có thể trồng được trong vụ đông xuân nhưng hiện nay đã có thể trồng trọt quanh năm tại Đà Lạt với quy mô từ 350-500 ha/vụ. Cây khoai tây trước 1980 được trồng chủ yếu từ củ giống.Từ 1980 đến nay, cây giống được sản xuất từ công nghệ nuôi cấy mô thực vật.

Giống khoai tây trước 1975: chủ yếu là giống của Tây Đức và Hoà Lan.

• Patrones (Hoà Lan), Cosima (Tây Đức) được sử dụng từ năm 1963.

• Tondra (Tây Đức), Desirée (Hoà Lan): được sử dụng từ năm 1968.

Giống khoai tây từ 1980 – 1995:

• Atzimba, I.1035 , CFK 69-1, Utatlan 69, P3, Rosita 114, Kennebec, Greta, Kerpundi,...có nguồn gốc từ Mexico, Mỹ, Pháp.

Giống khoai tây được trồng phổ biến hiện nay: 06 (CFK 69.1), 07 (Uatatlan).

Từ năm 1980-1990, có hơn 100 giống khoai tây được lưu giữ tại ngân hàng giống của địa phương bằng kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật. Một số giống được thử nghiệm tại Đà Lạt, trong đó có những giống khoai dùng cho chăn nuôi, công nghệ chế biến,…

Cây khoai tây trồng trong vụ hè thu có thời gian sinh trưởng ngắn hơn trong vụ đông xuân nhưng năng suất kém hơn do điều kiện khí hậu tự nhiên không thích hợp cho cây tạo củ. Năng suất bình quân hiện nay trong vụ đông xuân đạt 150-180 tạ/ha. Vụ hè thu kém hơn, từ 100-120 tạ/ha.

Khoai tây Đà Lạt là đặc sản rất được ưa chuộng. Từ khoai tây có thể chế biến làm món canh súp, món khoai tây chiên giòn hoặc cũng có thể luộc để làm mặt nạ, tác dụng rất tốt với chị em phụ nữ.

Cà rốt

Cà rốt (carotte) có tên khoa học là Daucus carota L. (họ Umbellifereae). Đây là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, được chú ý trồng trọt từ những năm 1940. Cây cà rốt có thể trồng trên nhiều vùng đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là trên đất bazan. Hiện nay địa phương canh tác cà rốt có hiệu quả cao và tốt nhất ở Đà lạt là xã Xuân Thọ, Cam Ly (phường 5), Đa Thiện (phường 8), Thái Phiên (phường 12). Mặc dù cà rốt có thể trồng ở nhiều nơi nhưng ở những địa phương kể trên màu sắc củ cà rốt đẹp hơn nhiều nên được thị trường ưa chuộng và thu mua với giá cao hơn ở những vùng khác 10-30% giá thị trường. Cây cà rốt được trồng trọt phổ biến tại Đà Lạt và người sản xuất cũng đã tự để giống để dùng cho vụ sau.

Giống cà rốt được trồng trọt từ những năm trước 1960: Rouge de Saint Valéry, Demi-longue de Chanteney (hãng Clause - Pháp), còn gọi là cà rốt ni lông. Các giống này hiện nay vẫn còn được sử dụng trên nhiều vùng canh tác của địa phương vì cho năng suất cao và ổn định.

Giống cà rốt được trồng từ 1960: Half Long Nantes, Royal Chantenay, Rouge longue obtuse de Colma.

Giống cà rốt được trồng từ 1975: Victoria, Royal cross,...

Những giống mới nhập nội từ những năm 1975 đến nay khá nhiều, mặc dù có chất lượng cao hơn nhưng chưa phổ biến do có năng suất thấp và chưa thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng của địa phương. Năng suất bình quân 350-400 tạ/ha.

Cà rốt có nhiều tiền vitamin A, rất bổ dưỡng cho mắt. Cà rốt thường được sử dụng trong các món canh hầm thịt chung với khoai tây hay.

Xà lách

Xà lách (salade laitue) có tên khoa học Lactuca sativa var. Capitata L. (họ Composeae). Là một loại cây có thời gian sinh trưởng ngắn nên rất thích hợp cho việc trồng xen với những loại cây rau khác. Cây xà lách không kén đất nên có thể trồng trên nhiều vùng đất khác nhau và trồng được quanh năm. Vùng trồng nhiều xà lách của Đà Lạt tập trung tại các phường 2, 5, 6, 7 , 8, 9.

Trước 1960 chủ yếu trồng giống có nguồn gốc từ Pháp (Laitue à couper améliorée parisienne).

Những giống xà lách được trồng trọt từ 1990: Butter Lettuce CLS 808, Lettuce Marina, Lettuce Mini Star, Full Heart NR65, Endive N0 138,... (Nhật, Mỹ).

Từ năm 1998 có nhiều giống xà lách mới được nhập nội và được gieo trồng theo phương thức sản xuất rau chất lượng cao với nhiều màu sắc khác nhau như Lolbo Rossa, Romaine, Oakleaf Green,...(Mỹ). 
Xà lách có thời gian sinh trưởng khoảng 45 – 55 ngày, năng suất bình quân 20 tạ/ha.

Xà lách là một trong những loại rau rất ngon, bổ dưỡng của Đà Lạt. Rau xà lách có thể dùng trong ăn sống (cùng với nhiều loại rau gia vị khác); trộn dầu dấm; ăn kèm với bún trong các loại bún nước, bún khô; hoặc ăn với thịt heo luộc cuốn bánh tráng mỏng chấm nước mắm tỏi ớt. Khi mua rau xà lách mang đi xa, du khách nhớ nói với người bán lấy cho loại rau khô, chưa được nhúng nước, có thể bảo quản lâu hơn.

Cần tây

Cần tây (celery) có tên khoa học Apium graveolens, L. (họ Umbelliferae). Đây là một cây rau ăn lá được trồng trọt khá phổ biến tại Đà Lạt do rất thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, nhất là những vùng đất thấp, ẩm ướt. Ngoài cần tây, trong tự nhiên Đà Lạt còn mọc hoang cây cần nước.

Cần tây được trồng nhiều tại các phường 7, 8, 9, 12,…

Cây cần tây có thời gian sinh trưởng 60 - 75 ngày nhưng thời gian gieo giống khá dài (55 - 60 ngày).

Các giống được trồng trọt trong những năm 1960: Utah 52-70, Tall Utah 54-70 (Mỹ).

Cần tây có tác dụng hạ huyết áp và là một trong những loại rau gia vị đặc biệt của Đà Lạt, thường được dùng trong các món ăn có thịt bò: thịt bò xào, phở bò. Ngoài ra cũng có thể dùng cần tây để trộn gỏi, một món ăn khai vị rất hấp dẫn trong các bữa tiệc.

Hành tây

Hành tây (oignon) có tên khoa học Allium cepa L. (họ Liliaceae), là một trong những chủng loại nông sản được canh tác khá nhiều tại Đà Lạt. Các địa phương trồng hành nhiều là Phước Thành, Thánh Mẫu, Kim Thạch (phường 7), An Sơn, Quảng Thừa (phường 4), Cam Ly (phường 5). Hành tây thích hợp với những vùng đất thoáng, pha cát, nhất là đất phù sa sông suối.

Các giống được trồng trọt từ 1960: Texas Early Grano 502, Granex, Red Creole, Yellow Dessex,...(Mỹ).

Các giống hành mới: VL-201, Onda Vistra,...

Bên cạnh hành tây, cây tỏi (Allium sativum L.) cũng là một chủng loại được trồng trọt nhiều tại Đà Lạt trong những năm trước 1980 với nhiều giống khác nhau: Si-lou White leaf, Hsuehchia Softsltem, Annan Very Early, Tzutung Black Leaf,... Hiện nay, các giống tỏi không còn được quan tâm sản xuất nhiều vì hiệu quả kinh tế thấp và khó lưu trữ trong điều kiện khí hậu Đà Lạt.

Poarô hành (poireau) có tên khoa học Allium porrum, hiện đang được trồng nhiều tại Phước Thành và Kim Thạch (phường 7). Đây là cây họ hành có giá trị cao và có thể sản xuất quanh năm. Giống được sản xuất hiện nay là : Kyoto Market, Large Long Summer,…

Hành tây là một gia vị rất ngon và bổ dưỡng không thể thiếu trong các món gỏi, thịt bò xào.

Đậu Hoà Lan

Đậu Hoà Lan (petit pois) có tên khoa học là Pisum sativum L. (họ Leguminosae). Đây là một trong những cây trồng thuộc nhóm đậu được trồng trọt khá phổ biến tại Đà Lạt. Đậu Hoà Lan cũng là một cây trồng nhập nội vào Đà Lạt vào khoảng những năm 1940. Đậu Hoà Lan được trồng nhiều tại các phường 4, 5, 7. Khu vực canh tác nhiều nhất là Phước Thành, Thánh Mẫu (phường 7), các địa phương khác cũng có trồng nhưng với diện tích không đáng kể.

Giống trồng trọt trước đây được nhập nội từ các nước Mỹ, Đài Loan, Pháp với các giống Mammoth Melting Sugar (Mỹ), Tai Chung N09 &N010 (Đài Loan), Merveille de Kelvedon (Pháp), sau đó người sản xuất tự để giống và tiếp tục gieo trồng cho các vụ sau. Hiện nay các giống này đã trở thành giống địa phương.

Trong những năm 90, có một số giống đậu Hoà Lan xuất xứ từ Đài Loan, Mỹ,…(Garden Pea, Edible Pod,…) được đưa vào trồng thử nghiệm tại Đà Lạt nhưng hầu hết đều không thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và cho năng suất thấp hơn so với giống đã được thuần hoá trước đây nên không được người sản xuất ưa chuộng.

Đậu Hoà Lan có thể trồng quanh năm tại Đà Lạt nhưng vụ đông xuân cho hiệu quả cao hơn vì ít bị nấm bệnh gây hại. Một vụ trồng đậu Hoà Lan có thể thu hoạch 10-12 lứa trái, năng suất bình quân 1,2-1,5 tấn/ha. 
Đậu Hoà Lan là một trong những đặc sản được du khách ưa thích, mặc dù những lúc hiếm, 1 kg đậu có thể lên đến 20.000 đồng. Đậu thường được dùng để xào với thịt bò hoặc làm rau trong các món lẩu.

Củ dền

Củ dền (radis) còn gọi là củ cải đỏ, có tên khoa học Beta vulgaris (họ Chenopodiaceae), là một loại nông sản được trồng xen với những loại cây rau khác. Giống trồng trọt phổ biến là Green Top Banching.

Củ cải trắng (navet) có tên khoa học Raphanus acanthiformis Morel. (họ Crucifereae), là một loại nông sản phổ biến tại Đà Lạt từ những năm trước 1990. Hiện nay nông dân Đà Lạt vẫn còn sản xuất củ cải trắng nhưng quy mô không lớn.

Giống trồng trọt: Mine Early Long White, Winter Queen, Mino Early White, 40 Days, Jumbo Scralat,…

Pố xôi

Rau pố xôi (Pak-choi cabbage hay spinack) có tên khoa học Brassica chinensis L. (họ Crucifereae), là một loại rau ngắn ngày được trồng quanh năm, nhiều nhất ở khu vực Thánh Mẫu (phường 7) và Nguyên Tử Lực (phường 8).

Giống trồng trọt phổ biến hiện nay là của Nhật Bản: HN225, Orient, Green Boy,…

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.989.220
  • Đang online: 364
  • Trong tuần: 15.373
  • Trong tháng: 54.190
  • Trong năm: 713.284