Đăng nhập
Tư liệu

Tư liệu KH&CN

Rau hoa Đà Lạt
Du lịch Lâm Đồng
Du lịch
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
2008
Một số tài liệu bạn cần đăng nhập với tư cách thành viên thì mới có thể tải toàn văn nội dung vê theo luật sở hữu trí tuệ.
Cho phép tải công cộng

Đà Lạt là một thành phố du lịch và có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển sản xuất một số cây đặc sản. Trong những năm qua, nông nghiệp đã giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của thành phố. Nông nghiệp một mặt đã phục vụ thiết thực cho du lịch nghỉ dưỡng, mặt khác tạo ra sản phẩm hàng hoá góp phần tăng nhanh tổng giá trị sản lượng hàng năm. Trong tương lai, nông nghiệp Đà Lạt sẽ có nhiệm vụ rất quan trọng là đáp ứng nhu cầu thực phẩm đặc sản cho du lịch nghỉ dưỡng, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tạo ra nhiều nguồn hàng xuất khẩu.

Để bảo đảm chức năng nhiệm vụ trên, nông nghiệp Đà Lạt sẽ phải phát triển toàn diện gồm trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản thực phẩm; hình thành những vùng chuyên môn hoá như vùng rau thực phẩm, vùng hoa, vùng trà, vùng cà phê phục vụ du lịch và xuất khẩu.

Với đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho việc trồng trọt các loại rau, hoa ôn đới, Lâm Đồng, chủ yếu là Đà Lạt và một số huyện trong tỉnh, đã được chú ý đầu tư để phát triển nông nghiệp.

Thổ nhưỡng

Đất có khả năng canh tác nông nghiệp ở Đà Lạt chiếm 10.998 ha, trong đó đất đã sử dụng là 3.767 ha, đất có khả năng phát triển nông nghiệp là 7.231 ha.

Mức độ thích nghi của cây trồng trên các loại đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt được đánh giá như sau :

Đất phù sa thuận lợi cho sản xuất các loại rau cải, lúa, ngô.

Đất nâu đỏ thuận lợi cho cây công nghiệp (cà phê), cây ngắn ngày (khoai tây).

Đất nâu vàng thuận lợi cho sản xuất hoa cắt cành và atisô.

Đất đỏ vàng thuận lợi cho sản xuất hoa, atisô, rau cải, chè, cây ăn quả.

Đất vàng đỏ thuận lợi cho cây rau, cây ăn quả và cây lương thực.

Phân bố các vùng sản xuất

Từ khi phát triển nghề trồng rau hoa, diện tích canh tác rau cải tại Đà Lạt phát triển khá nhanh với 12,3 ha năm 1938 đã tăng lên 814,63 ha năm 1968. Các vùng canh tác cũng được mở rộng đến nhiều khu vực trong thị xã Đà Lạt. Hầu hết các vùng đều sản xuất các loại rau cải như cải bắp, cải thảo, cải bông, xà lách, cà rốt, khoai tây. Sản lượng của các sản phẩm này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu rau cải tại Đà Lạt (khoảng 90%) các loại rau khác như củ cải trắng, hành tỏi, các loại rau khác chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Trong thời gian này, sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt chưa có sự phân vùng một cách rõ rệt. Tuy vậy cũng đã bắt đầu hình thành một số khu vực sản xuất theo dạng chuyên môn hoá như:

• • Khu vực Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Đa Thiện, Đa Cát: sản phẩm chủ yếu là rau cải các loại.

• • Khu vực Thái Phiên, Nam Hồ: sản phẩm ưu thế là atisô, hoa glaieul, lys, marguerite.

• • Khu vực Xuân Thọ, Trại Mát: sản phẩm ưu thế là cà rốt, một ít các loại rau cải khác.

• • Khu vực Xuân trường: Sản phẩm ưu thế là chè, cây ăn trái, hoa glaieul.

• • Khu vực An Bình, Quảng Thừa: sản phẩm ưu thế là rau cải, cây ăn trái.

Từ năm 1975 đến năm 1985, sản xuất nông nghiệp Đà Lạt bắt đầu có sự phân vùng sản xuất theo kế hoạch tập trung. Trong thời gian đầu, hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp Đà Lạt tập trung vào sản xuất cây lương thực, chỉ còn một số vùng có ưu thế là vẫn tiếp tục sản xuất rau cải. Do vậy sản lượng rau cải Đà Lạt trong những năm này thấp hơn những năm trước 1975.

Quy hoạch sản xuất nông nghiệp Đà Lạt năm 1987 đã xây dựng các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp của Đà Lạt một cách cụ thể dựa trên điều kiện khí hậu, phân tích các tính chất cơ học của đất đai, tập quán canh tác của nhân dân địa phương và phương hướng mục tiêu của kế hoạch phát triển sản xuất. Từ các căn cứ trên, nông nghiệp thành phố Đà Lạt được phân chia làm 3 tiểu vùng:

- Tiểu vùng 1: xã Tà Nung: Loại đất chủ yếu là nâu đỏ trên bazan và vàng đỏ trên đaxit, có tầng dầy trên 100 cm, độ dốc 5-20o, cây trồng chính là cà phê và cây lương thực.

-Tiểu vùng 2: gồm 12 phường (từ phường 1 đến phường 12): Loại đất chủ yếu là đỏ vàng trên phiến sa, vàng đỏ trên granite và đất phù sa sông suối, có tầng dầy 70-100 cm, độ dốc 3-20o, cây trồng chính là rau cải, cây dược liệu, hoa cắt cành.

Tiểu vùng 3: gồm 2 xã Xuân Thọ và Xuân Trường: Loại đất chủ yếu là đỏ vàng trên phiến sa, nâu đỏ trên đaxit, có tầng dầy trên 100 cm, độ dốc 5-25o, cây trồng chính là cà phê, chè, cây ăn quả, cây rau.

Quy hoạch ngành nông lâm nghiệp thành phố Đà Lạt năm 1997 xác định lại các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp trên cơ sở đặc điểm tự nhiên của khu vực, không tác động quá mức vào hệ sinh thái nông nghiệp bằng các biện pháp canh tác để đạt mục đích cao trong sản xuất.

Thực hiện phát triển nông nghiệp theo các định hướng trên, đến năm 2000, vùng nông nghiệp Đà Lạt đã dần dần hình thành các vùng sản xuất như sau:

• Phường 3 -10: Cây trồng chủ yếu là cà phê và cây ăn trái đặc sản.

• Phường 4 - 5 - 6: Cây trồng chủ yếu là rau cải, hoa cắt cành, cây có củ.

• Phường 7 - 8 - 9 -11 - 12: Cây trồng chủ yếu là rau cải, hoa cắt cành, dâu tây.

• Xuân Thọ, Xuân Trường: Cây trồng chủ yếu là cây có củ, cà phê, chè.

• Tà Nung: cây trồng chủ yếu là cà phê, cây lương thực.

Diện tích sản xuất nông nghiệp thuộc các phường trong nội thành (phường 1-2) không còn nhiều và đã chuyển sang làm cây giống rau, hoa để cung cấp cho các địa phương có sản xuất nông nghiệp khác của thành phố.

Diện tích và sản lượng rau hoa

Trong giai đoạn 1996-2001, diện tích canh tác cây ngắn ngày trên đất thuần nông tại Đà Lạt năm 2001 đã gia tăng 162,51% so với năm 1996, vòng quay luân canh đạt 2,4 vụ/ha/năm (tăng 1,44 lần), trong đó diện tích canh tác rau và hoa cắt cành gia tăng với mức độ đáng kể. Hàng năm, diện tích đất được đưa vào sản xuất bình quân là 85%.

Đối với cây cây dài ngày trên đất thuần nông, đặc biệt là cây cà phê, diện tích canh tác đã được mở rộng từ 800 ha năm 1996 lên 1.680 ha năm 1999 (tăng 2,1 lần). So với kế hoạch, gia tăng 4,18 lần. Diện tích cây chè suy giảm 43% (470 ha năm 1996, còn 270 ha năm 2001), cây ăn quả có gia tăng nhưng không đáng kể.

Về năng suất và sản lượng thu hoạch đối với rau các loại, năng suất bình quân trong các năm 1996-1998 là 238-240 tạ/ha. Trong những năm gần đây, do ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, nhất là sản xuất rau theo hướng nông nghiệp tổng hợp, sử dụng các giống cây trồng mới có đặc tính chống chịu với sâu bệnh, áp dụng các chế độ phân bón hợp lý và các biện pháp quản trị dịch hại tổng hợp (IPM),… nên năng suất và chất lượng nông sản có mức gia tăng đáng kể. Kết quả điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Đà Lạt năm 2000 cho thấy năng suất bình quân của các loại rau của Đà lạt đạt 255 tạ/ha (gia tăng 1,25 lần so với năm 1996-1997).

Chủng loại rau được sản xuất trên địa bàn khá đa dạng nhưng nhiều nhất là các loại cây họ thập tự (cải bắp, cải thảo, lơ,...) chiếm khoảng 60%, các loại cây có củ khác (khoai tây, cà rốt, củ dền,…) chiếm 30%, còn lại 10% là các loại rau ăn lá, đậu khác (pố xôi, cần tây, xà lách, đậu côve, đậu Hoà Lan,…).

Với diện tích sản xuất các loại rau ngắn ngày khoảng 3.300 ha, sản lượng thu hoạch đối với cây rau bình quân trong 5 năm 1996-2000 gia tăng 2,02 lần so với 5 năm 1991-1995 (1991-1995 bình quân 54.990,6 tấn/năm, 1996-2000 bình quân 110.826 tấn/năm). So với kế hoạch, gia tăng 1,56 lần (kế hoạch bình quân 5 năm 71.033 tấn/năm).

Đối với cây hoa, giai đoạn 1996-2000 có nhiều biến động theo chiều hướng gia tăng cả về diện tích cũng như chủng loại và sản lượng so với giai đoạn 1991-1995 (1991-1995: bình quân 55 ha/ năm, 1996-2000: bình quân 121 ha/năm). Năm 2001, diện tích canh tác cây hoa đã gia tăng trên 400 ha với sản lượng thu hoạch trên 170 triệu cành.

Chủng loại cây ngắn ngày được chú trọng sản xuất trong thời gian này là cải bắp, cải bắc thảo, cải bông, khoai tây, cà rốt, đậu, các loại rau khác, hoa cắt cành.

Giống cây trồng

Năm 1938, các giống rau mang từ miền Bắc vào đã được trồng tỉa và cho kết quả rất tốt như:

• Xà lách: Laitue à couper améliorée parisienne.

• Đậu Hoà Lan: Petit pois Express à longue cosse và Mange tout, roi des Carouby.

• Cải bắp: Chou coeur de boeuf moyen, Chou express, Chou de Noel, Chou quintal d’Alsace.

• Dâu tây: Fraisiers des quatre saisons, Vicomtesse Héricart de Thurty.

• Cải bông: Chou-fleur d’Alger, Chou-fleur Merveille de toutes saisons.

• Cà rốt: Carotte rouge demi-longue de Chantenay (Cà rốt ni-lông), Carotte rouge de Saint Valéry (Cà rốt nọc).

Năm 1948, do ảnh hưởng bởi chiến tranh, hạt giống rau từ các nước nhập khẩu về Đà Lạt bị hạn chế và không đủ cung cấp cho sản xuất. Tại ấp Hà Đông, giống cải bắp trồng bằng “tuya” (bouture) được phát hiện và kỹ thuật này đã phổ biến khắp các vùng sản xuất rau của thị xã Đà Lạt. Kỹ thuật này đã giúp nông phần nào chủ động về cây giống để sản xuất và nó tồn tại đến những năm trước 1980.

Năm 1959, với việc hình thành Trung tâm Thực nghiệm rau hoa Đà Lạt, hàng loạt giống rau đã được phóng thích và phục vụ thiết thực cho vùng rau Đà Lạt.

Từ những năm 1970, nguồn hạt giống rau nhập khẩu vào miền Nam Việt Nam tương đối dồi dào và đã đáp ứng được yêu cầu sản xuất ngày càng tăng của Đà Lạt. Tuy nhiên các giống rau như cà rốt, cải bông, các loại rau cải thông thường khác thì được nông dân tự làm giống và sử dụng. Các loại được nhập khẩu chủ yếu là cải bắp, cải thảo, ớt xanh,... và một số loại rau cao cấp khác (pố xôi, cần tây,…).

Năm 1977, với nhu cầu phát triển sản xuất, Nhà nước nhập nội 4 tấn giống cải bắp, cải bắc thảo chủ yếu phục vụ cho vùng rau Đà Lạt đã góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm hạt giống rau tại Đà Lạt.

Báo cáo đánh giá tổng kết công tác giống rau 1979-1983 tại thành phố Đà Lạt đã nhận định Đà Lạt có điều kiện phù hợp để sản xuất một số giống rau phục vụ cho nhu cầu sản xuất rau thương phẩm của các địa phương khác trong cả nước. Các giống rau có thể làm giống tại Đà Lạt như củ cải thước, củ cải Hà Nội, củ cải Thái Lan, cải bông, cải xanh, cải trắng, đậu côve, cải bắp Lạng Sơn, cải bắp số 5, su hào Hà Giang.

Từ năm 1987-1991, Phòng Nông nghiệp Đà Lạt tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống cải bắp và cải thảo của Công ty Tohoku (Nhật Bản) gồm 6 giống cải bắp CR-100, TH-8260, Early Shogun, Shogun, TH-7450, TH-3920 và 3 giống cải bắc thảo C-55, FS-60, R-70. Công tác khảo nghiệm đã chọn lọc được 2 giống cải bắp Early Shogun, Shogun và 1 giống cải thảo FS-60 phù hợp với điều kiện sản xuất tại Đà Lạt.

Trong thập niên 1990 của thế kỷ XX, các cơ quan nghiên cứu khoa học của địa phương cũng đã nghiên cứu các giống rau mới để đưa vào sản xuất nông nghiệp: các giống khoai tây Atzimba (012), CFK-69.1 (06), Utatlan (07), Rosita-114 của Trung tâm Khoai tây Quốc tế CIP; các giống cải bắp Green Coronet, Green Crown; các giống cải bắc thảo Chorus, Tempest, W-60, WR-70 (Công ty Takii Seed - Nhật Bản); cải bắp Shogun (Tohoku - Nhật Bản); cải bắp Paris (Pháp), Grand 11, A-28 (Công ty Chitai - Thái Lan); cải thảo TN-35, 304 (Công ty Trang Nông); hành tây Yellow Granex, Red Creole C5 (Mỹ); dền đỏ Green Top, Detroit Dark Red Morse’s Strain, Tezier,… đã đáp ứng cho nhu cầu giống của địa phương trong những thời gian nhất định.

Song song với công tác khảo nghiệm và phóng thích các họ rau cải đã thích nghi, từ năm 1996, với chương trình sản xuất rau an toàn nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của xã hội, một số giống rau cao cấp khác đã được nghiên cứu thử nghiệm và sản xuất thành công trên các vùng rau của Đà Lạt như giống rau Lollo Rossa, Romaine, Oakleaf Green, Asparagus, Broccoli, Fenel, Leeks, Red Cabbage, Red Radish, Batavian Green, Big frisee, Ice Berg, Slearole, Rocketr Arugula, Mache, French Bean, Basil, Chives, Parsley, Dill, Tartagon, Thyme, Button Mushroom, Chery Tomato,...

Với giống hoa cắt cành, ngoài các loại đã phổ biến và trở thành các giống truyền thống của địa phương như lys trắng, glaieul, hoa hồng…., trong thập kỷ 1990, các giống hoa đồng tiền (gerbera) được di nhập từ Hà Nội vào Đà Lạt và được trồng trọt nhiều ở vùng Thái Phiên với các giống có màu đỏ đậm, đỏ lửa, vàng, hồng phấn,...Trong thời gian này có trên 25 giống hoa hồng được nông dân tự thử nghiệm tại vùng Cam Ly (phường 5) và đã chọn lọc được các giống hoa hồng xanh, đỏ Ý, đỏ Hoà Lan,...

Năm 1984, chương trình nghiên cứu về cây địa lan Đà Lạt (Cymbidium) được khởi động (chương trình LD-05). Cùng với kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật đã phát triển, hàng trăm ngàn cây địa lan cấy mô với các giống quý hiếm đã được nhân nhanh và phục vụ kịp thời cho nhu cầu giống của địa phương. Thống kê năm 1988 của Trạm Nuôi cấy mô thực vật Đà Lạt (thuộc Ban Khoa học -Kỹ thuật Đà Lạt) cho thấy thời điểm này Đà Lạt có trên 250 giống địa lan Cymbidium nhập nội, có 9 loài tự nhiên với trên 25 biến chủng có giá trị về mặt di truyền, có thể làm nguồn ban đầu để lai tạo giống mới (Đà Lạt Cymbidium - 1988). Ngoài ra, Đà Lạt còn có khoảng 300 loài lan tự nhiên thuộc khí hậu nhiệt đới núi cao, có giá trị về mặt sưu tập khoa học và di truyền chọn giống, trong đó đáng kể nhất là các loài thuộc chi Dendrobium, Paphiopedilum, Coelogyne, Bulbophyllum,...

Từ sau năm 1995 việc di nhập các giống hoa cắt cành mới tương đối thuận lợi cùng với việc tiến hành nhiều thử nghiệm về giống cây trồng đã góp phần làm phong phú thêm chủng loại ngắn ngày tại địa phương. Các giống cúc, đồng tiền, cẩm chướng, hoa hồng, salem, ngàn sao,... được di nhập, trồng trọt thử nghiệm và đã chọn lọc được bộ giống thích nghi với điều kiện tự nhiên cũng như kỹ thuật canh tác của địa phương. Ước tính đến đầu năm 2000, số lượng chủng loại hoa cắt cành giống mới được di nhập vào Đà Lạt có khoảng 60 giống cúc, 20 giống đồng tiền, 15 giống cẩm chướng, 10 giống hoa hồng, 4 giống ngàn sao và trên 10 chủng loại hoa khác.

Góp ý của bạn đọc

Nhập mã bảo vệ
Hình ảnh CAPTCHA
Nhập mã Hiển thị ở trên vào hộp dưới đây
HDT HTML
HDT NewsBlog

BẢN TIN KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

Số 48/2020 - 21/12/2020
Số 48/2020 Xem thêm
Số 47/2020 - 21/12/2020
Số 46/2020 - 14/12/2020
Số 45/2020 - 14/12/2020
Số 44/2020 - 02/12/2020
HDT HTML
Thống kê truy cập
  • 5.988.934
  • Đang online: 153
  • Trong tuần: 15.087
  • Trong tháng: 53.904
  • Trong năm: 712.998